首页 · 按年份 · 按作者

胡志明致律师阮有寿信

文章 胡志明 · 1969-01 · 69222字
本文献为胡志明于1969年1月3日致律师阮有寿的信。信中回顾越南抗美救国斗争历程,强调南方民族解放阵线及临时革命政府的合法性,阐述美国侵略本质及越南人民争取独立、统一、和平的坚定立场,呼吁国际社会支持越南正义事业。
胡志明阮有寿越南抗美救国民族解放阵线临时革命政府美国侵略日内瓦协定局部战争特种战争巴黎会议统一独立和平中立民主祖国同胞共产党越盟南部北部中部国会抗战解放武装力量游击队人民军战略战术外交国际支持不结盟运动联合国法国中国苏联印度支那老挝柬埔寨西原湄公河三角洲红河三角洲顺化西贡河内海防岘港芽庄昆仑岛火罗监狱山罗监狱八月革命全国抗战奠边府春节攻势基桑德浪河谷普莱梅1968年1969年1975年1954年1945年1930年1925年阮爱国潘佩珠潘周桢黎笋范文同武元甲黎德寿黄文苏黎鸿峰阮文渠陈富尊德胜郑廷草冯文恭黄明鉴阮攸光中二征夫人莫定支武鸿康阮海神吴廷琰阮高其杜文明陈文香约翰逊肯尼迪艾森豪威尔尼克松戴高乐蓬皮杜鲁特韦尔瓦扬
1969年1月3日 胡志明 尊德胜 资料存于胡志明博物馆。 注释 及 人名索引 **CHÚ THÍCH** 1. **Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam**: Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam Việt Nam trong những năm chống Mỹ, cứu nước, do Đảng ta, trực tiếp là Đảng bộ miền Nam lãnh đạo. Mặt trận được chính thức thành lập ngày 20-12-1960 theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) và là thành quả của phong trào Đồng khởi ở miền Nam những năm 1959 - 1960. Tham gia Mặt trận gồm đông đảo các giai cấp, tầng lớp quần chúng, các đảng phái yêu nước không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị. Tuyên ngôn và Chương trình hành động được công bố ngay từ những ngày đầu thành lập nêu rõ: Mục tiêu đấu tranh là đánh đổ ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai, xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, trung lập; tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam cùng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam đã tổ chức các tầng lớp nhân dân cả nước, đoàn kết chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, giành toàn thắng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất Tổ quốc. Năm 1976, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã hợp nhất các tổ chức Mặt trận trong cả nước thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr.2. 2. **Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương**: Hiệp định được ký kết tại Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao bàn về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương, họp tại Giơnevơ (Thụy Sĩ), từ ngày 8-5 đến ngày 21-7-1954. Nội dung cơ bản của các văn kiện được ký kết tại Hội nghị (các Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia; các phụ bản Hiệp định; Tuyên bố chung của Hội nghị) như sau: - Các nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia. - Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương; quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương. Mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước. - Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời, chia Việt Nam làm hai miền; sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam. - Ở Lào, các lực lượng kháng chiến tập kết tại hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalì. Ở Campuchia, lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ. Bản Tuyên bố chung ghi rõ: “Ở Việt Nam, đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ”. Nhưng ngay từ đầu, đế quốc Mỹ đã ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Năm 1955, Mỹ hất cẳng Pháp, xây dựng bộ máy ngụy quyền ở miền Nam, tiến hành đàn áp dã man những người kháng chiến và giật dây chính quyền Sài Gòn cự tuyệt tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Nhân dân cả nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã anh dũng tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước. Tr.3. 3. **Chiến thắng Plâyme**: Chiến thắng của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam trước các lực lượng viễn chinh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên. Tháng 9-1965, đế quốc Mỹ và tay sai đưa quân án ngữ ở An Khê. Từ ngày 19-10 đến ngày 26-11-1965, các lực lượng vũ trang ta mở chiến dịch đánh địch ở khu vực Bầu Cạn, Đức Cơ và bao vây địch ở Plâyme, buộc các lực lượng Mỹ ở An Khê đến ứng cứu. Tranh thủ thời cơ đó, các đơn vị bộ đội chủ lực ta tập trung lực lượng đánh trận phủ đầu quân viễn chinh Mỹ, tiêu diệt gần 3.000 tên địch (có 1.700 tên Mỹ), 59 máy bay các loại bị bắn rơi, 5 pháo lớn và nhiều xe cơ giới địch bị phá huỷ. Tr.6. 4. **Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ, cứu nước**: Tổ chức tại Hà Nội từ ngày 4 đến ngày 6-1-1966. Tham dự Hội nghị có 650 đại biểu đại diện cho giới trí thức cách mạng trên các mặt trận sản xuất và chiến đấu. Hội nghị quyết định phát động phong trào “Ba quyết tâm” trong giới trí thức với nội dung: 1- Quyết tâm phục vụ sản xuất và chiến đấu. 2- Quyết tâm đẩy mạnh cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng văn hoá - tư tưởng. 3- Quyết tâm xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa. Tr.9. 5. **Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III)**: Họp cuối tháng 12-1965 để nhận định tình hình cách mạng Việt Nam, đề ra chủ trương, đường lối mới trong điều kiện đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam, tăng cường ném bom, bắn phá miền Bắc. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ tính chất cơ bản cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, với hai lực lượng là quân viễn chinh Mỹ cùng lực lượng ngụy quân, ngụy quyền. Trên cơ sở phân tích những mặt mạnh, yếu của đế quốc Mỹ và tay sai, Hội nghị khẳng định: Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta từ Nam chí Bắc. Hội nghị quyết định chuyển toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội trên miền Bắc vào thời chiến. Nhiệm vụ của nhân dân miền Bắc là vừa sản xuất, vừa chiến đấu, chi viện cao nhất cho miền Nam và làm tròn nhiệm vụ quốc tế; sẵn sàng đánh địch nếu chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước. Nhiệm vụ của nhân dân miền Nam là kiên quyết chiến đấu tiêu diệt đế quốc Mỹ và tay sai để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Hội nghị khẳng định: Mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn tên lính viễn chinh, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không có thay đổi lớn. Thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ thuộc về dân tộc ta. Tr.13. 6. **Lập trường 4 điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà**: Đầu năm 1965, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh và tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ xâm lược miền Nam, tăng cường cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đồng thời ra sức rêu rao về “thiện chí hoà bình”. Ngày 8-4-1965, tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá III, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố rõ lập trường của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm 4 điểm như sau: 1- Xác nhận những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam: hoà bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Theo đúng Hiệp định Giơnevơ, Chính phủ Mỹ phải rút quân đội, nhân viên quân sự và các loại vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam, xoá bỏ liên minh quân sự với miền Nam; Chính phủ Mỹ phải đình chỉ chính sách can thiệp và xâm lược đối với miền Nam; phải đình chỉ hành động chiến tranh đối với miền Bắc, hoàn toàn chấm dứt mọi hành động xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 2- Trong lúc chờ đợi thực hiện hoà bình thống nhất nước Việt Nam, trong lúc nước Việt Nam còn tạm thời bị chia làm hai miền thì phải triệt để tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam như: Hai miền đều không có liên minh quân sự với nước ngoài, không có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự nước ngoài trên đất mình. 3- Công việc miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. 4- Việc thực hiện hoà bình thống nhất nước Việt Nam do nhân dân Việt Nam ở hai miền tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài. Tr.15. 7. **Liên hợp quốc**: Là một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị họp ở Xan Phranxixcô (Mỹ), họp từ ngày 25-4 đến ngày 26-6-1945. Đại diện của 50 nước đã ký tham gia Hiến chương Liên hợp quốc. Hiến chương bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24-10-1945. Vì vậy, ngày 24-10 hằng năm được gọi là Ngày Liên hợp quốc. Hiến chương Liên hợp quốc nêu rõ: Mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là để ngăn ngừa và loại trừ những mối đe dọa đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tín ngưỡng và tiếng nói. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào các công việc nội bộ của nước khác. Trụ sở Liên hợp quốc đặt tại Niu Oóc (Mỹ). Ngày 20-9-1977, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Tính đến năm 2010, Liên hợp quốc có 192 nước thành viên. Tr.16. 8. **Các nước không liên kết hay Phong trào Không liên kết**: Thành lập tháng 9-1961, tại Hội nghị Bêôgrát (Nam Tư cũ) với mục đích là nhằm tăng cường hợp tác trên trường quốc tế của các quốc gia mới giành được độc lập, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chống chiến tranh và phân biệt chủng tộc, cùng tồn tại và phát triển hoà bình. Những thành viên sáng lập Phong trào Không liên kết là Ấn Độ, Ai Cập, Inđônêxia, Nam Tư (cũ), Gana. Năm 1976, Việt Nam chính thức gia nhập Phong trào Không liên kết. Tr.44. 9. **Hiệp định sơ bộ 6-3**: Hiệp định do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký với Giăng Xanhtơny, đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp, ngày 6-3-1946, tại Hà Nội. Nội dung cơ bản của Hiệp định sơ bộ là: Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu dân ý quyết định. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý việc 15.000 quân Pháp được thay thế quân Tưởng rút về nước. Số quân Pháp phải đóng ở những nơi quy định và phải rút khỏi Việt Nam trong 5 năm, mỗi năm rút một phần năm số quân. Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí đóng quân. Việc ký Hiệp định sơ bộ là một biện pháp đúng đắn, sáng tạo. Nhờ đó, chúng ta đã đẩy nhanh quân Tưởng về nước, loại trừ cho cách mạng một kẻ thù nguy hiểm, phá tan âm mưu của các thế lực đế quốc câu kết với nhau hòng bán đứng Việt Nam cho Pháp, giành thêm thời gian hoà bình để xây dựng và củng cố lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.60. 10. **Chuyến thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh**: Ngày 31-5-1946, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm nước Pháp, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp nhằm nỗ lực tìm kiếm giải pháp hoà bình trong thương lượng với Chính phủ Pháp, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tạo thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho cách mạng. Người đã khéo léo sử dụng chuyến thăm này để tuyên truyền nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình Pháp và thế giới. Ngày 18-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm và rời nước Pháp. Tr.60. 11. **Tạm ước 14-9-1946**: Tên thường gọi của Thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari. Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt - Pháp vào tháng 1-1947. Việc ký Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.60. 12. **Chiến thắng Điện Biên Phủ**: Chiến thắng lớn nhất trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, có ý nghĩa chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Từ giữa tháng 11-1953, thực dân Pháp, với sự giúp sức của Mỹ, đã xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với tổng số quân hơn 16.000 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 2 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo lớn, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay, tổ chức thành 8 cụm với 46 cứ điểm. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 13-3-1953 và kết thúc thắng lợi vào ngày 7-5-1954. Sau 55 ngày đêm chiến đấu, với 3 đợt tiến công, các lực lượng vũ trang ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Tướng Đờ Caxtơri và Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị quân ta bắt sống. Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, đã góp phần quyết định đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Tr.60. 13. **Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên)**: Tổ chức cách mạng của những người Việt Nam yêu nước, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập tháng 6-1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc). Hội có Chính cương, Chương trình hoạt động, Điều lệ tóm tắt. Cơ quan tuyên truyền của Hội là báo Thanh niên. Tại Quảng Châu, Tổng bộ Hội đã mở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Học viên được tuyển chọn trong số các thanh niên Việt Nam yêu nước đang hoạt động ở miền Nam Trung Quốc và đưa từ trong nước sang. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trực tiếp phụ trách tổ chức và huấn luyện tại các lớp học này. Nội dung huấn luyện là những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, về cách mạng Việt Nam, về đạo đức cách mạng... Sau các lớp học, các học viên trở về nước hoạt động tuyên truyền và xây dựng cơ sở. Đến tháng 5-1929, Hội đã có hệ thống tổ chức từ tổng bộ, các kỳ bộ, một số tỉnh bộ và cơ sở rộng khắp trong cả nước. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tr.76. 14. **Cách mạng Tháng Tám**: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, nổ ra và thắng lợi vào tháng 8-1945. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước ta đã vùng dậy Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.102. 15. **Kỳ họp thứ ba của Quốc hội khoá III**: Kỳ họp diễn ra từ ngày 16 đến ngày 22-4-1966, tại Hà Nội. Kỳ họp đã tổng kết và biểu dương những thành tích của quân và dân cả nước trong một năm chống Mỹ, cứu nước; thông qua một số nghị quyết quan trọng và Bản Tuyên bố của Quốc hội kêu gọi quân và dân ta đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng, kêu gọi nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đẩy mạnh phong trào giúp đỡ và ủng hộ Việt Nam, kêu gọi nhân dân tiến bộ Mỹ tăng cường cuộc đấu tranh đòi giới cầm quyền Mỹ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Tr.103. 16. **Tuyên bố 5 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam**: Từ đầu năm 1965, cùng với việc tiến hành cuộc “Chiến tranh cục bộ” xâm lược miền Nam và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, giới cầm quyền Mỹ ra sức tuyên truyền về thiện chí hoà bình để đánh lừa dư luận quốc tế. Ngày 22-3-1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra bản tuyên bố 5 điểm: “1- Đế quốc Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, là kẻ gây chiến và xâm lược cực kỳ thô bạo, là kẻ thù không đội trời chung của nhân dân Việt Nam. 2- Nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng quyết đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thực hiện miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước. 3- Nhân dân miền Nam và Quân giải phóng miền Nam anh hùng quyết hoàn thành đầy đủ nhất nghĩa vụ thiêng liêng của mình là đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. 4- Nhân dân miền Nam Việt Nam tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới và tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận mọi sự giúp đỡ, kể cả vũ khí và mọi dụng cụ chiến tranh khác của bạn bè khắp năm châu. 5- Toàn dân đoàn kết, toàn dân vũ trang, tiếp tục anh dũng xông lên, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ và bọn Việt gian bán nước”. Tr.106. 17. **Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)**: Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Triều Tiên được tách thành hai khu vực kiểm soát, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới. Phía Bắc do lực lượng cách mạng, với sự hậu thuẫn của các nước xã hội chủ nghĩa quản lý, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên; phía Nam do lực lượng thân Mỹ quản lý, thành lập nước Đại Hàn Dân Quốc hay còn gọi là Hàn Quốc. Ngày 25-6-1950, các lực lượng vũ trang Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã tiến công xuống phía Nam. Sau một số chiến dịch, quân đội Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên kiểm soát phần lớn lãnh thổ Nam Triều Tiên. Để cứu nguy cho Nam Triều Tiên, dưới chiêu bài “quân đội Liên hợp quốc”, Mỹ và đồng minh (gồm lực lượng của 15 nước) đã can thiệp vũ trang vào Triều Tiên và cùng quân đội Nam Triều Tiên tiến công chiếm lại Xơun (ngày 16-9-1950), rồi tiến ra Bắc. Ngày 23-10-1950, liên quân Mỹ và chư hầu đánh chiếm Bình Nhưỡng, sau đó tiến quân tới sát biên giới Trung Quốc. Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc quyết định gửi quân chí nguyện sang giúp cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Triều Tiên, đẩy lui sự tiến công của liên quân Mỹ và chư hầu. Tháng 11-1951, mặt trận ổn định ở vĩ tuyến 38 và hai bên bắt đầu thương lượng. Cuộc chiến tranh kết thúc ngày 27-7-1953 bằng việc ký kết bản Hiệp định đình chiến ở Bàn Môn Điếm. Tr.109. 18. **Thảm họa Hirôsima và Nagasaki**: Nhằm gây sức ép với phát xít Nhật và phô trương sức mạnh quân sự với các nước, trong hai ngày 6 và 9-8-1945, không quân Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật là Hirôsima và Nagasaki. Sức công phá của hai quả bom nguyên tử đã phá huỷ hầu hết hai thành phố, khiến hàng chục vạn người, chủ yếu là dân thường, chết ngay tại chỗ và nhiều năm sau này, nhiều người còn chịu ảnh hưởng của phóng xạ. Thảm họa Hirôsima và Nagasaki gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh loài người về sức huỷ diệt tàn khốc của vũ khí hạt nhân và cùng nhau nỗ lực đấu tranh chống việc sản xuất và sử dụng vũ khí hạt nhân. Tr.136. 19. **“Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam**: Do đế quốc Mỹ tiến hành ở miền Nam từ năm 1961 đến năm 1964. Đặc điểm của cuộc chiến tranh này là nó được thực hiện theo công thức: chỉ huy là các cố vấn quân sự Mỹ; các phương tiện chiến tranh, vũ khí do Mỹ cung cấp; quân đội ngụy trực tiếp thực hiện nhằm chống lại các lực lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Đế quốc Mỹ đã đề ra và thực hiện kế hoạch Xtalây - Taylo và sau đó là kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara (do Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara đề xướng và Tổng thống Giônxơn thông qua) nhằm thực hiện ý đồ chiến lược là: 1- Tăng cường quân ngụy, sử dụng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng cách mạng miền Nam. 2- Xây dựng ngụy quyền mạnh, ngăn chặn cuộc đấu tranh chính trị ở thành thị, tiến hành xây dựng hệ thống “ấp chiến lược”, “bình định” nông thôn, ổn định các thành thị. 3- Ngăn chặn biên giới, kiểm soát vùng ven biển, cô lập miền Nam, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc. Các kế hoạch trên đã hoàn toàn phá sản từ đầu năm 1964, đánh dấu sự thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Tr.140. 20. **“Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam**: Là một trong những loại hình chiến tranh nằm trong chiến lược quân sự “phản ứng linh hoạt” và chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, được triển khai và áp dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam từ năm 1965 đến năm 1968. Thực hiện cuộc chiến tranh này, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam (số quân lúc cao nhất lên tới hơn 52 vạn tên), cùng với quân đội ngụy mở hàng loạt chiến dịch hành quân “tìm diệt”; đồng thời ném bom bắn phá rất ác liệt miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện đối với miền Nam. Phương tiện chiến tranh, vũ khí, kỹ thuật được quân Mỹ huy động lên mức rất cao, nhưng chúng đã phải chịu thất bại rất nặng nề trên chiến trường miền Nam cũng như chiến trường toàn Đông Dương. Đặc biệt, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân (1968) trên chiến trường miền Nam đã làm rung chuyển nước Mỹ, là đòn bất ngờ và mạnh mẽ đánh dấu sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Ngày 22-3-1968, Tổng thống Mỹ ra lệnh cách chức viên Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, bỏ chiến lược “tìm diệt”, thay thế bằng chiến lược “quét và giữ”; quân đội ngụy sẽ giữ vai trò chính và dần dần thay thế quân viễn chinh Mỹ trong tác chiến. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ tuyên bố hạn chế hoạt động quân sự của Mỹ và ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Những quyết định đó của Tổng thống Mỹ đã chính thức thừa nhận sự phá sản của “Chiến tranh cục bộ”. Tr.140. 21. **Xôviết Nghệ - Tĩnh**: Đỉnh cao của cao trào cách mạng Việt Nam những năm 1930 - 1931. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân một số địa phương ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã vùng dậy đấu tranh vũ trang đánh đổ chính quyền tay sai, lập chính quyền cách mạng kiểu Xôviết và thực hiện những biện pháp cách mạng, phục vụ quyền lợi của nhân dân lao động bị áp bức. Hoảng sợ trước sức mạnh của quần chúng cách mạng, thực dân Pháp và tay sai đã dùng nhiều biện pháp tàn bạo, dìm Xôviết Nghệ - Tĩnh trong biển máu. Phong trào Xôviết Nghệ - Tĩnh nổ ra khi Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài. Báo cáo của Người gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản với nhan đề “Nghệ Tĩnh đỏ” đã đánh giá cao khí thế cách mạng của quần chúng tham gia phong trào này: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh... đều bất lực, không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh...”. Sau Xôviết Nghệ - Tĩnh, cách mạng Việt Nam tạm lắng, nhưng lịch sử Đảng và lịch sử dân tộc đã ghi nhận: Xôviết Nghệ - Tĩnh là đỉnh cao của cao trào cách mạng đầu tiên sau ngày Đảng ra đời. Tr.159. 22. **Thất bại của Mỹ trong mùa khô 1965 - 1966**: Cuối năm 1965, khi đã tăng quân trên chiến trường miền Nam lên 72 vạn tên (trong đó có 20 vạn lính Mỹ và chư hầu) cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc phản công chiến lược nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực của Quân giải phóng, giành thế chủ động trên chiến trường. Từ tháng 1 đến tháng 4-1966, chúng mở 450 cuộc hành quân lớn nhỏ, tập trung càn quét vùng đồng bằng Khu V và miền Đông Nam Bộ. Cùng với việc giáng trả các cuộc hành quân càn quét của địch, các lực lượng vũ trang ta tiến hành tập kích vào nhiều căn cứ, hậu phương của địch, gây cho chúng những tổn thất rất nặng nề. Kết quả trong mùa khô 1965 - 1966, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến 104.000 tên địch (trong đó có 46.000 tên Mỹ và chư hầu); bắn rơi và phá huỷ 1.430 máy bay, 600 xe tăng và xe thiết giáp, 80 khẩu pháo lớn, 1.310 ôtô, 27 tàu xuồng các loại. Thất bại của Mỹ - ngụy và chư hầu trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 đánh dấu sự phá sản bước đầu của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Tr.180. 23. **Hiệp ước Vácxôvi (Vácxava)**: Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ giữa các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu được ký kết ngày 14-5-1955, tại Vácxava (Ba Lan). Tham gia Hiệp ước có các nước: Ba Lan, Bungari, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Cộng hoà Dân chủ Đức, Anbani và Liên Xô. Mục đích của việc ký Hiệp ước là để đối phó lại việc Mỹ và các nước khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) tái vũ trang Cộng hoà Liên bang Đức và đưa nước này gia nhập NATO. Hiệp ước quy định các biện pháp cần thiết để bảo đảm an ninh cho các nước thành viên, không đe doạ tấn công xâm lược nước nào. Năm 1962, Anbani tự tuyên bố rút khỏi Hiệp ước và ngày 1-7-1991, do những biến động chính trị ở Liên Xô và sự tan vỡ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các nước thành viên đã ký Nghị định thư chấm dứt hiệu lực của Hiệp ước Vácxava. Tr.197. 24. **Toà án quốc tế Béctơrăng Rútxen**: Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, thành lập ngày 15-11-1966, theo sáng kiến và mang tên của nhà bác học Anh Béctơrăng Rútxen. Toà án đã có kỳ họp chính thức đầu tiên từ ngày 2 đến ngày 13-5-1967, tại Xtốckhôm (Thụy Điển) và kỳ họp thứ hai từ ngày 20-11 đến ngày 1-12-1967, tại Côpenhagen (Đan Mạch). Với các bằng chứng thuyết phục, Toà án Béctơrăng Rútxen kết luận: Giới cầm quyền Mỹ là thủ phạm chính và chính giới một số nước đồng loã đã phạm những tội ác man rợ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, vi phạm nhiều điều mà luật pháp quốc tế đã ngăn cấm. Toà án Béctơrăng Rútxen không quy định những hình phạt cụ thể vì nó không đại diện cho một nhà nước cụ thể nào. Nhưng kết luận của Toà án có ý nghĩa về mặt chính trị, tinh thần và có ảnh hưởng rộng rãi trong việc thức tỉnh lương tri của nhân loại tiến bộ đấu tranh chống lại những tội ác của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Tr.200. 25. **Cuộc bạo động phản cách mạng tháng 10-1956 ở Hunggari**: Lợi dụng những sai lầm trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Hunggari những năm 1948 - 1956, được sự hậu thuẫn, tiếp tay của các nước phương Tây, ngày 23-10-1956, các lực lượng chống cộng đã tổ chức biểu tình và gây bạo loạn tại Thủ đô Buđapét rồi lan ra các địa phương, đòi rút quân đội Liên Xô khỏi lãnh thổ Hunggari, tiến hành bầu cử và lập chính phủ mới, thay thế chính phủ hiện thời do Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hunggari lãnh đạo. Với sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô, các lực lượng cách mạng Hunggari đã nhanh chóng giành lại quyền kiểm soát đất nước. Cuộc bạo động vũ trang bị dẹp tan, những người cầm đầu lực lượng chống đối bị bắt giữ. Tr.205. 26. **Vụ đầu độc Phú Lợi**: Vụ thảm sát dã man những người yêu nước do Mỹ - Diệm gây ra ở miền Nam Việt Nam, ngày 1-12-1958. Để giết hại những người yêu nước, chúng đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của hơn 6.000 người bị chúng bắt giam ở nhà tù Phú Lợi, làm hơn 1.000 người chết, hơn 4.000 người bị trúng độc nặng. Những người còn sống sót leo lên mái nhà kêu cứu đã bị quân lính dùng vòi rồng phun nước vào và xả súng bắn chết. Để phi tang, chúng đốt xác những người trúng độc và cả những người còn hấp hối. Đồng bào xung quanh nhận được tin này kéo đến trại giam đấu tranh. Sau đó, một phong trào đấu tranh phản đối Mỹ - Diệm lan khắp toàn quốc dưới nhiều hình thức khác nhau: mít tinh, biểu tình, đưa kiến nghị, để lên án hành động dã man của Mỹ - Diệm. Nhiều địa phương ở miền Nam đã để tang, lập bàn thờ; các chùa chiền, thánh thất làm lễ cầu siêu cho người bị hại. Phong trào lên án vụ thảm sát còn lan ra nhiều nước trên thế giới. Tr.231. 27. **Kế hoạch Xtalây - Taylo**: Để tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã đề ra kế hoạch Xtalây - Taylo. Theo kế hoạch này, chúng đề ra ba biện pháp để thực hiện ý đồ chiến lược: 1. Tăng cường quân ngụy, dùng quân ngụy do cố vấn Mỹ chỉ huy; sử dụng các phương tiện chiến tranh như máy bay trực thăng, xe thiết giáp..., nhằm cơ động nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng cách mạng miền Nam. 2. Xây dựng bộ máy nguỵ quyền mạnh và ngăn chặn phong trào đấu tranh của nhân dân các thành thị, giữ vững thành thị, đồng thời tiêu diệt phong trào cách mạng ở nông thôn bằng việc “bình định” và lập “ấp chiến lược”. 3. Ngăn chặn biên giới, kiểm soát vùng ven biển, cô lập cách mạng miền Nam bằng việc cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc. Thực hiện kế hoạch Xtalây - Taylo, đế quốc Mỹ hy vọng chuyển sang tiến công nhằm giành lại thế chủ động. Chúng đặt quyết tâm “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng. Kế hoạch Xtalây - Taylo được tiến hành từ cuối năm 1961 đến đầu năm 1964, nhưng bị phá sản hoàn toàn. Tr.233. 28. **Toà án Quân sự quốc tế Nurembe**: Tòa án xét xử các tội phạm chiến tranh - những tên phát xít Đức đầu sỏ là thành viên chính quyền Hítle, lãnh đạo Đảng Quốc xã, cơ quan Giétxtapô, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang phát xít Đức, được tiến hành ở Nurembe (Đức) từ ngày 20-11-1945 đến ngày 1-10-1946. 12 trong số 22 bị cáo đã bị kết án tử hình do phạm tội chống hoà bình, chống lại loài người; những tên còn lại bị xử tù từ 10 năm đến chung thân. Tr.252. 29. **Hội nghị nhân dân Đông Dương**: Trước tình hình đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh chống nhân dân Việt Nam và uy hiếp độc lập, hoà bình, trung lập của Lào và Campuchia, theo sáng kiến của Thái tử Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Nôrôđôm Xihanúc, Hội nghị nhân dân Đông Dương đã họp tại Phnôm Pênh, Thủ đô Vương quốc Campuchia, từ ngày 1 đến ngày 9-3-1965. Tham gia Hội nghị có các đoàn đại biểu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Cộng đồng Xã hội bình dân Campuchia, Neo Lào Hắc Xạt, lực lượng trung lập yêu nước Lào và các đoàn thể, tổ chức khác thuộc ba nước Đông Dương. Hội nghị lên án mạnh mẽ đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, gây ra cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác chống nhân dân Việt Nam, can thiệp vũ trang vào Lào và âm mưu xâm lược Campuchia. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết chung, khẳng định tình đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và thông qua ba nghị quyết riêng về Việt Nam, Lào, Campuchia. Hội nghị nhân dân Đông Dương là một sự kiện quan trọng trong việc hình thành liên minh đoàn kết chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương. Tr.309. 30. **Thất bại của Mỹ trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967)**: Với lực lượng được tăng lên tới trên 1 triệu quân, trong đó có hơn 50 vạn lính Mỹ và chư hầu, và một số lượng rất lớn phương tiện chiến tranh hiện đại, cuối năm 1966, quân Mỹ mở cuộc phản công lớn trên chiến trường miền Nam Việt Nam, trọng điểm là vùng Đông Nam Bộ, hòng tìm diệt cơ quan lãnh đạo và chủ lực Quân giải phóng, giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường. Quân Mỹ đã mở 895 cuộc hành quân lớn, trong đó có 3 cuộc hành quân then chốt là Áttơnborơ, Xêđaphôn và Gianxơn Xity. Quân dân miền Nam đã anh dũng, linh hoạt mở các cuộc phản công đánh bại các cuộc hành quân của quân Mỹ và buộc chúng phải căng ra đối phó trên các chiến trường từ Đông Nam Bộ đến Tây Nguyên, Trị - Thiên. Kết quả, trong mùa khô 1966 - 1967, đã có 17,5 vạn quân Mỹ và chư hầu bị loại khỏi vòng chiến đấu, 1.800 máy bay, 1.786 xe quân sự, 100 tàu xuồng bị bắn cháy, bắn hỏng. Thất bại của Mỹ trong mùa khô 1966 - 1967 đã làm phá sản thêm một bước chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của giới cầm quyền Mỹ. Tr.347. 31. **Chiến tranh phá hoại miền Bắc**: Nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam, tháng 8-1964, sau khi dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ bắt đầu dùng máy bay, tàu chiến bắn phá miền Bắc. Từ đó đến tháng 12-1972, chúng đã tiến hành hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trong hơn 4 năm (từ ngày 5-8-1964 đến ngày 1-11-1968), giáng trả cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 3.200 máy bay Mỹ, diệt và bắt sống nhiều giặc lái, bắn chìm và bắn bị thương 143 tàu chiến, tàu biệt kích. Bị thiệt hại nặng ở cả hai miền Nam, Bắc, nhất là trong cuộc Tổng tiến công của quân ta ở miền Nam Tết Mậu Thân 1968, từ ngày 31-3-1968, Mỹ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và ngày 1-11-1968 phải ngừng hoàn toàn việc ném bom bắn phá miền Bắc. Tháng 4-1972, nhằm cứu nguy cho quân ngụy ở miền Nam trước cuộc tiến công chiến lược của quân ta, đồng thời gây sức ép trên bàn đàm phán Pari, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai với quy mô và cường độ ác liệt vượt xa lần đầu. Trong chín tháng (từ ngày 6-4-1972 đến ngày 15-1-1973), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 735 máy bay, bắn chìm và bắn bị thương 125 tàu chiến. Đặc biệt, trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, quân và dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng, bắn rơi 81 máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc B.52, 5 chiếc F111, làm nên chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 15-1-1973, đế quốc Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai. Tr.351. 32. **Năm nguyên tắc chung sống hoà bình**: Những nguyên tắc cùng tồn tại, hợp tác và phát triển hoà bình giữa các quốc gia do Thủ tướng các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện (Mianma) nêu lên trong các bản Tuyên bố Trung - Ấn, Trung - Miến năm 1954. Đó là: 1. Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau; 2. Không xâm phạm lẫn nhau; 3. Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; 4. Bình đẳng và cùng có lợi; 5. Chung sống hoà bình. Tr.355. 33. **Cuộc Cách mạng Pháp 1789**: Cuộc cách mạng tư sản điển hình ở châu Âu với sự kiện tiêu biểu là ngày 14-7-1789, quần chúng Pari vũ trang chiếm ngục Baxti - nơi tượng trưng của chế độ phong kiến chuyên chế ở Pháp. Cuộc cách mạng đã đánh đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở Pháp và nhiều nước châu Âu. Tr.359. 34. **Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam**: Sau thắng lợi của gần bảy năm hoạt động theo chương trình 10 điểm công bố khi thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960), theo chủ trương của Đảng, ngày 1-9-1967, Mặt trận đã họp Đại hội bất thường để thông qua Cương lĩnh chính trị. Nội dung chủ yếu của Cương lĩnh gồm bốn phần: 1- Toàn dân đoàn kết, chống Mỹ, cứu nước. 2- Xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập và phồn vinh. 3- Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam - Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước Việt Nam. 4- Thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập. Đại hội còn đề ra 14 chính sách lớn, thể hiện đầy đủ và triệt để những nhiệm vụ lịch sử của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Mục đích của việc công bố bản Cương lĩnh chính trị là nhằm củng cố và mở rộng hơn nữa khối đoàn kết, động viên quân và dân miền Nam phát huy thắng lợi, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đồng thời công bố với nhân dân thế giới về đường lối, chính sách của Mặt trận, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Tr.365. 35. **Cách mạng Tháng Mười Nga**: Ngày 7-11-1917 (tức ngày 25-10, theo lịch Nga), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I.Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã nổi dậy lật đổ chính quyền tư sản phản cách mạng, thành lập chính quyền Xôviết do V.I.Lênin đứng đầu. Đây là cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc thuộc địa tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng rất to lớn đến nhận thức chính trị của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình Người đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Người đã khẳng định con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Việt Nam và các dân tộc thuộc địa khác là theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga. Tr.380. 36. **Cuộc can thiệp của 14 nước đế quốc vào nước Nga Xôviết**: Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các thế lực đế quốc quốc tế cho rằng sự ra đời và tồn tại của nước Nga Xôviết là nguy cơ lớn nhất đối với họ, nên đã thống nhất mục đích tiêu diệt nhà nước cách mạng non trẻ. Thực hiện mục đích đó, năm 1918, quân đội của 14 nước đế quốc câu kết với các thế lực địa chủ, bạch vệ tấn công nước Nga Xôviết cả bên ngoài và bên trong. Cuộc tiến công quân sự của các nước đế quốc đã gây nhiều khó khăn, tổn thất cho cách mạng Nga. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, do V.I.Lênin đứng đầu, Hồng quân và nhân dân Nga đã đập tan sự nổi loạn của các thế lực phản động trong nước, đuổi quân đội các nước đế quốc ra khỏi biên giới vào năm 1922, bảo vệ vững chắc đất nước và chính quyền Xôviết. Tr.388. 37. **Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời**: Trong những năm 1928 - 1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng của giai cấp công nhân. Trong vòng bốn tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (8-1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9-1929). Những sự kiện đó chứng tỏ bước phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác - Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy, phải tổ chức một đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó. Nhận được tin các tổ chức cộng sản ra đời và hoạt động ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại. Nắm được tình hình trên, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản đã triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Hội nghị đã được tiến hành từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, tại Hồng Công (Trung Quốc). Tham gia Hội nghị có đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và chi bộ những người Cộng sản Việt Nam ở nước ngoài. Hội nghị đã nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; cử Ban Chấp ủy Trung ương lâm thời và thông qua các văn kiện chính thức của Đảng: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt. Đại biểu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp nhưng sau đó hoàn toàn tán thành quyết định của Hội nghị. Hội nghị hợp nhất có ý nghĩa lịch sử như Đại hội thành lập Đảng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.393. 38. **Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam**: Tháng 12-1944, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển thuận lợi, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có khả năng bùng nổ và thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Chỉ thị nêu rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”, hoạt động theo nguyên tắc tập trung lực lượng, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, kết hợp xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực với xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Về chiến thuật, vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nghi binh, nhanh chóng, tích cực, bất ngờ. Chỉ thị nêu rõ tiền đồ của Đội rất vẻ vang. Trong tương lai nó sẽ phát triển ra cả nước. Thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, được thành lập tại một khu rừng nằm giữa tổng Trần Hưng Đạo và tổng Hoàng Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Dưới lá cờ đỏ sao vàng, toàn Đội đã đọc 10 lời thề danh dự. Ngay sau ngày thành lập, đội quân cách mạng ấy đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) trong hai ngày 24 và 25-12-1944. Chiến thắng đầu tiên này đã cổ vũ phong trào đánh đuổi thực dân Pháp, mở đường cho những thắng lợi tiếp theo. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22-12 trở thành ngày truyền thống - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tr.410. 39. **Ngày toàn quốc kháng chiến**: Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta rất cần có hoà bình để xây dựng đất nước. Song, chỉ ba tuần sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 23-9-1945, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đã nổ ở Nam Bộ. Chính phủ ta đã nhân nhượng và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946 nhằm cứu vãn tình thế. Nhưng với mưu đồ cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp ngày càng đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh; mọi biện pháp vãn hồi hoà bình đã bị họ ngáng trở. Trước những hoạt động trắng trợn của thực dân Pháp, đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, khẳng định ý chí quyết tâm của cả dân tộc ta là: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc ta đã nhất tề đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 19-12 trở thành ngày truyền thống lịch sử dân tộc - Ngày toàn quốc kháng chiến. Tr.410. 40. **Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)**: Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, đêm 30-1-1968, các lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã, các sào huyệt và cơ quan đầu não của địch. Tại Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), nhiều mục tiêu quan trọng như dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài Phát thanh, Toà Đại sứ Mỹ, v.v. đều bị tấn công. Tại thành phố Huế, Quân giải phóng đánh chiếm 39 mục tiêu quan trọng, giải phóng thành phố và chiếm giữ suốt 25 ngày đêm. Tính đến ngày 31-3, 150.000 tên địch (trong đó có 43.000 tên Mỹ) đã bị loại khỏi vòng chiến đấu; 2.370 máy bay, 1.700 xe tăng, xe bọc thép, 350 khẩu pháo lớn, 280 tàu xuồng cùng 34% vật tư dự trữ chiến tranh của địch bị phá huỷ. Thắng lợi oanh liệt của cuộc tổng tiến công Mậu Thân đã giáng đòn bất ngờ vào lực lượng Mỹ - ngụy, ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị lung lay, chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đứng trước nguy cơ phá sản, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari. Tr.423. 41. **Chiến thắng Khe Sanh**: Trước những đòn tiến công của các lực lượng vũ trang ta trên mặt trận đường số 9 - Bắc Quảng Trị, từ giữa năm 1966 đến cuối năm 1967, các lực lượng viễn chinh Mỹ xây dựng một tập đoàn cứ điểm tại Khe Sanh (Hướng Hoá - Quảng Trị), nhằm ý đồ chiến lược thu hút và kìm chân một bộ phận chủ lực của ta. Lực lượng của Mỹ - ngụy tại đây lúc cao nhất lên tới 1 vạn tên, gồm 32 tiểu đoàn (trong đó có 26 tiểu đoàn Mỹ), với sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh và không quân - nhất là máy bay chiến lược B.52. Với quyết tâm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của địch, phá tan ý đồ chiến lược của chúng, các lực lượng vũ trang ta đã mở chiến dịch vây hãm, tiến công dài ngày và tiêu diệt địch tại Khe Sanh. Chiến dịch diễn ra từ ngày 21-1 đến ngày 9-7-1968 và chia làm bốn đợt. Trước sức tiến công mạnh của quân ta, ngày 26-6-1968, quân địch buộc phải rút chạy khỏi Khe Sanh và bị các lực lượng vũ trang ta chặn đánh quyết liệt 17 ngày liền. Ngày 9-7-1968, quân ta hoàn toàn giải phóng Khe Sanh. Sau hơn 170 ngày đêm chiến đấu, các lực lượng vũ trang ta đã loại khỏi vòng chiến 17.000 tên địch (trong đó có 13.000 tên Mỹ), bắn rơi và phá huỷ 480 máy bay, 120 xe quân sự, 65 khẩu pháo lớn cùng nhiều vật tư và đồ dùng quân sự khác; một địa bàn chiến lược với hơn một vạn dân tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Tr.471. 42. **Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam**: Thành lập ngày 20-4-1968, theo chủ trương của Đảng ta nhằm tập hợp đông đảo quần chúng trí thức yêu nước, một số công chức trong bộ máy ngụy quyền Sài Gòn. Bản tuyên ngôn cứu nước của Liên minh nêu rõ mục tiêu là đoàn kết mọi lực lượng và cá nhân yêu nước, kiên quyết chống ngoại xâm, đánh đổ chế độ ngụy quyền, thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc, giành độc lập, dân chủ và hoà bình. Chủ tịch Liên minh là Luật sư Trịnh Đình Thảo. Tháng 6-1969, Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam tham dự Hội nghị đại biểu quốc dân miền Nam, thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Năm 1976, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã hợp nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện sứ mệnh đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tr.474. 43. **Hội nghị Pari về Việt Nam**: Hội nghị bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, họp tại Pari (Pháp). Hội nghị có hai giai đoạn: Hội nghị hai bên và Hội nghị bốn bên. Hội nghị hai bên họp phiên đầu tiên vào ngày 13-5-1968. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do đồng chí Xuân Thuỷ dẫn đầu và phái đoàn Chính phủ Mỹ do Hariman dẫn đầu. Tuy chưa giải quyết được vấn đề gì cơ bản, nhưng Hội nghị hai bên là một diễn đàn quan trọng để ta vạch trần dã tâm xâm lược và thái độ ngoan cố, thiếu thiện chí của giới cầm quyền Mỹ trong việc giải quyết vấn đề lập lại hoà bình ở Việt Nam. Hội nghị bốn bên họp phiên đầu tiên ngày 18-1-1969, Trưởng đoàn Chính phủ ta và Chính phủ Mỹ vẫn như Hội nghị hai bên, phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu; phái đoàn chính quyền Sài Gòn do Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Đăng Lâm dẫn đầu. Hội nghị kéo dài hơn bốn năm với 202 phiên họp công khai, 24 phiên họp kín. Với ý đồ thương lượng trên thế mạnh nên thái độ của phía Mỹ rất ngoan cố. Nhưng trước những thắng lợi của quân và dân ta, đặc biệt là thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công Xuân - Hè 1972 ở miền Nam và đòn giáng trả đích đáng, đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng, với sức ép của dư luận tiến bộ Mỹ và thế giới, ngày 27-1-1973, phía Mỹ buộc phải ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình tại Việt Nam. Tr.474. 44. **Tết trồng cây**: Ngày 28-11-1959, bài Tết trồng cây của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Trần Lực đăng trên báo Nhân dân, số 2082. Bài báo phân tích ý nghĩa của việc trồng cây đối với mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội. Cuối năm 1959, Người kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây (từ ngày 6-1 đến ngày 6-2-1960) gọi là Tết trồng cây. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đã tổ chức Tết trồng cây đầu tiên trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý (1960). Kể từ đó tới nay, mỗi khi Xuân đến, nhân dân các địa phương lại tổ chức “Tết trồng cây làm theo lời Bác” và “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của toàn dân ta trong những dịp vui Tết đón Xuân. Tr.549. 45. **Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba)**: Tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới từ năm 1919 đến năm 1943. Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản diễn ra tháng 3-1919, tại Mátxcơva, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin và sự tham gia của các đảng cộng sản, nhóm cộng sản của 30 nước. Trong 24 năm tồn tại và hoạt động, Quốc tế Cộng sản có vai trò rất to lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc, với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới. Quốc tế Cộng sản cũng có công lao to lớn trong việc giúp đỡ quá trình lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, đào tạo cán bộ; đối với sự ra đời và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 5-1943, căn cứ vào diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, sự trưởng thành của Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, với sự tán thành của đa số các đảng cộng sản, đã thông qua Nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr.562. 46. **Giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam**: Ngày 8-5-1969, tại phiên họp toàn thể lần thứ 16 của Hội nghị Pari về Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đưa ra 10 điểm về “Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của giải pháp toàn bộ về vấn đề miền Nam Việt Nam, góp phần lập lại hoà bình ở Việt Nam” (Công luận lúc đó thường gọi là Giải pháp toàn bộ 10 điểm). Giải pháp này đã phân định rõ hai loại vấn đề khác nhau. Loại vấn đề thứ nhất: Đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược, nhân dân Việt Nam là người chống xâm lược; loại vấn đề thứ hai thuộc nội bộ người Việt Nam. Giải pháp nêu rõ, việc Mỹ rút quân thuộc loại vấn đề thứ nhất. Việc Mỹ đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam là nguyên nhân gây ra chiến tranh; muốn chấm dứt chiến tranh thì phải chấm dứt nguyên nhân gây ra chiến tranh, tức là chấm dứt sự xâm lược của Mỹ. Vì vậy, Mỹ phải rút quân Mỹ và chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đòi hỏi điều kiện gì. Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam thuộc loại vấn đề thứ hai và phải do các bên Việt Nam giải quyết. Mỹ đòi “hai bên cùng rút quân” là nhằm đặt kẻ xâm lược và người chống xâm lược ngang nhau, là điều không thể chấp nhận được. Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam cũng thuộc loại vấn đề thứ hai. Chính quyền Sài Gòn là công cụ xâm lược của Mỹ, nhưng với tinh thần hoà hợp, Mặt trận Dân tộc giải phóng chủ trương các lực lượng chính trị ở miền Nam cùng thương lượng thành lập một chính phủ liên hiệp lâm thời để thực hiện tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài. Giải pháp toàn bộ 10 điểm vừa thể hiện tính nguyên tắc, vừa thể hiện sự mềm dẻo và thái độ thiện chí của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn qua nhiều phiên họp vẫn ngoan cố khước từ. Tr.570. 47. **Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918)**: Cuộc chiến tranh giữa hai phe đế quốc ở châu Âu, một bên là Đức - Áo - Hung, một bên là Anh - Pháp - Nga. Khi cuộc chiến tranh sắp bước vào giai đoạn kết thúc, Mỹ nhảy vào vòng chiến, đứng về phía Anh - Pháp - Nga. Tháng 11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, chính quyền Xôviết thông qua Sắc lệnh hoà bình và nước Nga rút khỏi cuộc chiến. Cuộc chiến tranh này đã cuốn hút 33 nước với số dân 1.500 triệu người vào vòng chiến. Loài người đã chịu một tai họa khủng khiếp: 10 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị thương và tàn phế, một lượng của cải vật chất khổng lồ bị chiến tranh tiêu huỷ. Mùa Thu năm 1918, chiến tranh kết thúc với sự thất bại của phe Đức - Áo - Hung và Hiệp ước đình chiến đã được các nước tham chiến ký kết tại Cômpienhơ (Pháp). Tr.583. 48. **Quốc tế thứ hai**: Thành lập năm 1889 theo sáng kiến của Ph.Ăngghen và quyết định của Đại hội Liên minh quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa, họp tại Pari (Pháp). Quốc tế thứ hai có tác dụng phổ biến chủ nghĩa Mác rộng rãi, đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để phong trào cách mạng phát triển sâu rộng trong nhân dân lao động ở nhiều nước. Sau khi Ph.Ăngghen mất (1895), các phần tử cơ hội nắm quyền lãnh đạo Quốc tế thứ hai, phản bội lại học thuyết của C.Mác và có nhiều hoạt động chống lại phong trào công nhân; ủng hộ chính sách của chủ nghĩa đế quốc đối với các nước thuộc địa. Tr.583. 49. **Quốc tế thứ hai rưỡi**: Có tên gọi chính thức là Liên hiệp quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa, bao gồm các đảng và các nhóm xã hội chủ nghĩa phái giữa đã ly khai Quốc tế thứ hai. Tổ chức này được thành lập tháng 2-1921, tại Hội nghị Viên (Áo). Trên lời nói, Quốc tế thứ hai rưỡi phê phán Quốc tế thứ hai, nhưng trên thực tế đối với các vấn đề quan trọng nhất của phong trào công nhân họ là những người cơ hội, chia rẽ phong trào, chống lại ảnh hưởng của những người cộng sản chân chính đối với quần chúng công nhân. Tháng 5-1923, Quốc tế thứ hai và Quốc tế thứ hai rưỡi hợp nhất thành Quốc tế Công nhân xã hội chủ nghĩa. Tr.584. 50. **Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa**: Do V.I.Lênin khởi thảo và trình bày tại Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản (họp từ ngày 19-7 đến ngày 7-8-1920). Trong bản Sơ thảo, V.I.Lênin đã nêu rõ những vấn đề quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc như: Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cuộc cách mạng vô sản; việc ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là trách nhiệm và nghĩa vụ của những người cộng sản; vấn đề bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, v.v.. Trong quá trình tìm đường cứu nước, nhờ tiếp cận và nghiên cứu Sơ thảo những luận cương của V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bước ngoặt cơ bản về nhận thức chính trị. Người coi đây là “con đường giải phóng”, “con đường sống” của dân tộc Việt Nam. Tr.584. 51. **Báo Nhân đạo (L'Humanité)**: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giăng Giôrét sáng lập năm 1904. Khi Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L'Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp. Trong thời gian hoạt động ở Pháp đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài đăng trên báo L'Humanité nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa và kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh. Tr.584. 52. **Đại hội Tua**: Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, họp từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920, tại thành phố Tua (Pháp). Vấn đề quan trọng mà Đại hội thảo luận là Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba hay ở lại Quốc tế thứ hai. Với đa số phiếu tuyệt đối (3.208 tán thành; 1.022 phiếu chống), Đảng Xã hội Pháp tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội với tư cách là đại biểu thuộc địa Đông Dương. Tại Đại hội, Người đọc tham luận lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với các thuộc địa, kêu gọi giai cấp vô sản Pháp ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Đông Dương. Người bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba. Cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, Người trở thành một trong những thành viên tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Tr.584. 53. **Trường đại học Phương Đông**: Tên gọi tắt của Trường đại học cộng sản của những người lao động Phương Đông, được thành lập năm 1921 theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, nhằm đào tạo những cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng. Yêu cầu đặt ra đối với các học viên là phải học tập các môn học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v.. Trong gần 20 năm tồn tại, Trường đại học Phương Đông đã đào tạo cho các nước thuộc địa và phụ thuộc hàng ngàn cán bộ, nhiều người sau này trở thành những cán bộ lãnh đạo tài năng, có uy tín của các đảng cộng sản ở các nước, trong đó có một số cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi đến Liên Xô lần đầu (1923 - 1924), Nguyễn Ái Quốc đã vào học tại Trường đại học Phương Đông. Sau khi từ Mátxcơva (Liên Xô) đến Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động, Người đã chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam sang học tại trường này. Tr.586. 54. **Đại hội những người cộng sản phương Đông**: Đại hội họp tại thành phố Bacu (Adécbaidan) từ ngày 1 đến ngày 7-9-1920. Tham gia Đại hội có 1.891 đại biểu (trong đó có 1.273 đại biểu là đảng viên cộng sản) của 37 dân tộc phương Đông. Đại hội được tiến hành nhằm biểu dương và tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc phương Đông, giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp vô sản nước Nga và giai cấp vô sản quốc tế đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Đại hội đã hoàn toàn nhất trí với Nghị quyết về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản (1920). Tr.588. 55. **Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam**: Sau những thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam trong năm 1968, vùng giải phóng được mở rộng, vấn đề thành lập chính quyền cách mạng trở thành một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn cách mạng cả về đối nội và đối ngoại. Trước yêu cầu đó, Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam họp từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969 đã ra Nghị quyết thành lập chế độ Cộng hoà miền Nam Việt Nam; nhất trí bầu ra Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do ông Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Đại hội đã kêu gọi quân và dân miền Nam đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng. Ngay trong tháng 6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước chính thức đặt quan hệ ngoại giao. Trong suốt những năm tồn tại, Chính phủ luôn nhận được sự cổ vũ và nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ của nhiều nước anh em, bầu bạn. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn trong cuộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam kết thúc hoạt động và hoàn thành vai trò lịch sử của mình vào năm 1976, khi nhân dân hai miền Nam - Bắc tiến hành Tổng tuyển cử tự do bầu Quốc hội của cả nước. Tr.592. 56. **Phi Mỹ hoá chiến tranh**: Một kiểu chiến tranh xâm lược được đề ra trong học thuyết Níchxơn với công thức: cố vấn Mỹ chỉ huy; vũ khí kỹ thuật do Mỹ cung cấp; quân đội tay sai trực tiếp tiến hành. Kiểu chiến tranh này được giới cầm quyền Mỹ triển khai ở miền Nam Việt Nam từ năm 1969, với tên gọi là “Việt Nam hoá chiến tranh”, nhằm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt”. Ngày 27-1-1973, Mỹ phải ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 30-4-1975, quân và dân ta đã đánh tan ngụy quân, lật đổ ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đánh dấu sự phá sản của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và cũng là thất bại hoàn toàn của giới cầm quyền Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tr.592. 57. **Các bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh**: Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tài liệu tuyệt đối bí mật đầu tiên gồm ba trang, do tự tay Người đánh máy, ở cuối đề ngày 15-5-1965. Năm 1968, Người viết bổ sung thêm một số đoạn gồm sáu trang viết tay. Ngày 10-5-1969, Người viết lại toàn bộ phần mở đầu, gồm một trang viết tay (những năm 1966, 1967 không có bản viết riêng). Bản Di chúc công bố tại Lễ truy điệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 chủ yếu dựa vào bản Người viết năm 1965 (trong đó đoạn mở đầu là bản viết năm 1969, đoạn về việc riêng là phần đầu bản viết năm 1968). Bản Di chúc Người viết năm 1965 là bản duy nhất hoàn chỉnh, dưới có chữ ký của Người và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Các bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá VI) công bố năm 1989, nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người. Lần xuất bản này, chúng tôi đưa vào tập 15 toàn bộ các tài liệu công bố năm 1989 của Bộ Chính trị. Các bản thảo Di chúc được sắp xếp theo thứ tự thời gian Người viết, các bản bút tích trước, các bản in sau. Cuối cùng là bản Di chúc công bố chính thức năm 1969 (Những đầu đề lớn trong phần này là của Ban Biên tập). Tr.607. 人名索引 A 艾森豪威尔,德怀特·戴维(1890 - 1969):美国第34任总统(1953 - 1961),共和党党员;第二次世界大战(1939 - 1945)期间北非(1942 - 1944)和西欧(1944 - 1945)盟军总司令;北大西洋公约组织武装力量总司令(1950 - 1952)。艾森豪威尔政府推行基于“实力政治”原则的外交路线。1957年初,艾森豪威尔提出艾森豪威尔-杜勒斯学说,旨在对抗中近东各国的革命运动,以及多米诺骨牌学说,开启了美国对越南南部的直接干涉。 D. 艾森豪威尔是主张在越南南部实施“单边战争”战略的人。面对南部军民在“同起”运动(1959 - 1960)中发起的猛烈进攻和起义,D. 艾森豪威尔在越南南部的“单边战争”战略破产。 恩格斯,弗里德里希(1820 - 1895):无产阶级的伟大导师,卡尔·马克思的亲密战友。与卡尔·马克思一起,弗里德里希·恩格斯建立了科学共产主义理论,并为工人阶级的解放事业而奋斗。 弗里德里希·恩格斯不仅是一位伟大的革命家,还是一位哲学家、经济学家、历史学家、自然科学家和军事科学家;文学家、语言学家等。 弗里德里希·恩格斯将领导世界革命运动的实践工作与深刻的理论工作相结合。在卡尔·马克思逝世后,他继续完成并出版卡尔·马克思的理论著作;担任欧洲社会主义者的顾问和领导者。 弗里德里希·恩格斯在工人党内进行了毫不妥协的反对机会主义的斗争,揭露并严厉批评那些政党的缺点,帮助那些政党确立正确的革命方向。 B 巴蒂斯塔,菲德尔(1901 - 1973):1940年至1944年及1952年至1959年间古巴亲美独裁政权的领导人。1959年,菲·巴蒂斯塔政权被古巴革命推翻。 勃列日涅夫,列昂尼德·伊里奇(1906 - 1982):1966年至1982年任苏联共产党中央委员会总书记,最高苏维埃主席团主席,1977年起任苏联国防委员会主席。1927年至1930年在乌拉尔做工。1931年加入共产党;在伟大卫国战争(1941 - 1945)期间从事军队党务工作。在苏联共产党第十九次代表大会上,列·伊·勃列日涅夫当选为党中央委员会委员。1950年至1952年任莫尔多瓦共产党中央委员会第一书记。1954年至1956年任哈萨克斯坦共产党中央委员会委员、第二书记,随后任第一书记。他曾任苏联共产党中央书记(1952 - 1953)、(1956 - 1960)、(1963 - 1964);苏联共产党中央委员会第一书记和总书记,苏联最高苏维埃主席团主席(1964 - 1982)。他是苏联劳动英雄(1961),并四次荣获苏联英雄称号。 在担任苏联党和国家最高领导职务期间,列·伊·勃列日涅夫积极支持越南人民争取祖国统一和社会主义建设的斗争。 C 卡桑,马克森(1869 - 1958):法国和国际工人运动的杰出活动家;《人道报》编辑,该报是法国社会党的中央机关报,1918年任该报主编。M·卡桑是阮爱国在法国活动期间积极给予帮助的人之一。 1920年,M·卡桑以法国社会党代表的身份参加共产国际第二次代表大会;1924年至1943年,任共产国际执行委员会委员。 从1921年起,M·卡桑连续当选为法国共产党中央委员会委员和中央政治局委员。 1957年,M·卡桑获苏联党和国家授予的列宁勋章。 卡斯特罗,菲德尔:生于1926年,律师,古巴政治活动家;古巴共产党中央第一书记;曾任古巴国家委员会主席、部长会议主席和古巴革命武装力量总司令。 1953年7月26日,他是领导武装起义进攻蒙卡达堡的领导人之一。进攻未遂,他被捕并被判处15年监禁。两年后,他获释并继续从事活动。 1956年,菲德尔·卡斯特罗指挥81名爱国青年登陆东方省南部,并在西埃拉马埃斯特拉山区建立根据地。1959年1月,他领导进攻,推翻了巴蒂斯塔军事独裁政权。 凭借那句名言:“为了越南,古巴愿意献出自己的鲜血”,菲德尔·卡斯特罗是积极支持越南人民抗美救国战争及国家建设、并致力于建立和巩固古巴—越南团结友好关系的活动家。菲德尔·卡斯特罗曾两次访问越南(1973年和1995年)。 卡斯特罗,劳尔:生于1931年,古巴政治活动家,菲德尔·卡斯特罗的弟弟和得力助手。劳尔·卡斯特罗曾参加攻打蒙卡达兵营(1953年),被捕并被判处22个月监禁。出狱后,劳尔·卡斯特罗与古巴革命家们继续准备武装起义,并带领古巴革命取得胜利(1959年)。他是古巴共产党中央委员会第二书记。2008年,在菲·卡斯特罗患病后,劳尔·卡斯特罗被古巴共和国国会推选接替担任古巴国家委员会主席兼部长会议主席,以及古巴革命武装力量总司令。在古巴共产党第六次全国代表大会(2011年4月)上,他当选为古巴共产党中央委员会第一书记。 凯塔,莫迪博(1915 - 1977):政治活动家,马里共和国总统。1945年,他与一些知识分子创立了马里第一个政党,名为“苏丹联盟”;1947年,担任该党总书记。1948年,他当选为苏丹地方众议院议员;1956年,担任法国国会中的苏丹代表。1959年初,莫·凯塔参与建立马里联邦。当马里联邦宣布独立(1960年6月20日)时,他被推选为总统。当塞内加尔脱离马里联邦时,他是马里共和国总统。 柯西金,阿列克谢·尼古拉耶维奇(1904 - 1980):苏联政治活动家;部长会议主席(1964 - 1980)。阿·尼·柯西金是苏联最高苏维埃第二至第十届连续代表。1939年至1940年,担任纺织工业人民委员;1940年至1946年,担任人民委员会议副主席;1946年至1953年及1957年至1964年,担任苏联部长会议副主席。自1946年起,他是苏联共产党中央政治局候补委员,后成为苏联共产党中央政治局正式委员。 A.N.柯兹金是在建设和巩固苏联与越南两国党、国家及人民友谊方面作出重大贡献的人物。 克鲁普斯卡娅,娜杰日达·康斯坦丁诺夫娜(1869-1939):苏联党和国家干部,是弗·伊·列宁的夫人和战友。她自1890年起在大学生中开始革命活动,是1895年在圣彼得堡组织“工人阶级解放斗争协会”的成员之一,与弗·伊·列宁一同被捕并被流放(1896-1899),后担任《火星报》编辑部秘书;曾任教育人民委员部副部长(1929),是人民教育体系的创始人之一,苏联教育理论家;自1927年起任苏联共产党中央委员会委员,第一届苏联最高苏维埃主席团成员。 D 杜文明(1916-2001):大将,西贡伪政权最后一任总统;1940年加入法国军队。1954年日内瓦协定后,加入吴庭艳政权任职;指挥镇压平川和和好势力的战役;领导推翻吴庭艳政权的政变力量(1963)。1975年4月30日中午,当解放军占领独立宫时,杜文明不得不宣布无条件投降,标志着越南南方伪政权的彻底垮台。 Đ 达吉安利耶,乔治·蒂里·德(1889-1964):海军上将,法国太平洋地区高级专员(1941-1943);法国印度支那高级专员(1945-1947)。G.T.达吉安利耶是指挥法国殖民者第二次侵略印度支那战争的人,并在越南的“速战速决”战略中失败。 季米特洛夫,格奥尔基(1882-1949):保加利亚政治活动家,国际共产主义运动和工人运动活动家。 出身于工人家庭,格奥尔基·季米特洛夫早年便投身革命斗争。1902年,他加入保加利亚社会民主党,1909年当选党中央委员。1923年,他参与领导保加利亚工农反法西斯起义。起义失败后,他被迫离开祖国,继续在共产国际开展活动。1933年,在莱比锡的德国法西斯法庭上,格奥尔基·季米特洛夫勇敢地控诉了法西斯主义。凭借格奥尔基·季米特洛夫有力的论辩以及世界进步舆论的强烈反对运动,德国法西斯不得不释放了他。1935年至1943年,格奥尔基·季米特洛夫担任共产国际执行委员会总书记。保加利亚解放后,他当选为部长会议主席、保加利亚共产党总书记,并领导保加利亚祖国阵线。 丁德善(1913—1987):本名潘廷丁,南定省人。他于1930年投身革命,1939年入党。1945年八月革命后,任北江省委书记兼省行政委员会主席;1950年任军队运输局局长;1954年任总后勤局副局长。北部解放后,任重工业部副部长、太原钢铁区区长(1957—1964年);1965年任总后勤局局长,兼任机械冶金部部长(1969年)、交通部部长(1972年)、总技术局局长(1974年)。 1975年,丁德善被任命为中央军事委员会和总司令部代表、胡志明战役副司令。1975年后,他先后担任国家计划委员会副主任、负责石油天然气行业的部长、交通部部长(1982年)、国防部副部长(1982年)。 多斯特·古特,托拉多·奥茨万多(1919-1983):古巴政治活动家;古巴共和国总统(1959-1976)。他是古巴人民抗战运动(1952-1958)的领导人之一;曾任古巴律师协会主席(1958年)。1962年当选古巴共产党中央书记,1965年起任党中央政治局委员。 杜甫(712-770):中国唐代著名的现实主义诗人。杜甫的诗被誉为“诗史”,对劳动者持进步立场,关心国家命运。中国文学史称他为伟大的诗人,是唐代杰出的诗人之一。 戴高乐,夏尔(1890-1970):法国军事和政治活动家。1912年毕业于圣西尔军校,参加第一次世界大战。第二次世界大战期间,他被授予将军军衔。1940年6月,当德国占领法国时,他在伦敦建立了反对德国法西斯的抵抗组织,并领导全国委员会指挥法国武装力量对抗德国。1944年8月至1946年1月,任法国临时政府主席。1947年,创立法国人民联盟党,主张恢复法国帝国主义在旧殖民地(包括印度支那)的统治权。在印度支那战争(1954年)和阿尔及利亚战争(1958年)之后,他主张并实施向一些非洲国家移交独立;1959年当选总统,1965年连任;在重大问题上奉行法国相对于欧美国家的独立路线。1969年辞去总统职务。 甘地,英迪拉(1917-1984):印度政治活动家,G. 尼赫鲁之女。1938年,她加入国大党,成为印度独立运动中的著名活动家之一,当选党主席(1960年),但未参与政府工作。G. 尼赫鲁去世(1964年)后,英迪拉·甘地开始涉足政坛,被任命为信息与广播部长。1966年,英迪拉·甘地当选印度首位女总理,并两度担任此职(1966-1967年和1980-1984年)。1984年,她遭分裂主义分子暗杀。 嘉隆(1762-1820):本名阮福映,常称阮映,是被西山运动推翻的封建地主势力的代表。为对抗西山、恢复封建制度,阮映曾向暹罗侵略军求援(1784年);支持清朝侵略军;勾结法国资本,并与法国签订1787年条约。该条约共10款,主要内容为:将昆仑岛、会安海口永久割让给法国,并承诺让法国资本垄断全国贸易,战时向法国提供兵员和粮食;法国政府同意援助阮映4艘军舰和一支军队以对抗西山运动。 镇压西山运动(1802年)后,阮映登基,年号嘉隆,开创阮朝,即越南最后一个封建王朝。 约翰逊,林登(1908-1973):美国政治活动家;众议院议员(1939年)和参议院议员(1948年);民主党领袖(1953-1960年);美国副总统(1961-1963年);美国总统(1963-1968年)。L. 约翰逊主张在越南南部实施“特种战争”战略,随后是“局部战争”战略,并对越南北部实施海空破坏战,但均告失败。1968年11月,L. 约翰逊被迫宣布无条件停止对越南北部的破坏战。由于在侵略越南战争中遭受惨重失败,L. 约翰逊宣布退出竞选,不再寻求连任美国总统。 1969年1月,约翰逊回到得克萨斯州生活。 H 二征夫人(征侧、征贰):我国人民反抗中国封建统治的起义领袖(40-43年)。 该运动得到各地人民的响应。在短短时间内,65个县邑,即当时我国全境,均已获得解放。 取得独立后,征侧被尊为国王(征王),定都美灵(今属河内市美灵县)。两年后,汉朝派兵入侵我国。在二征夫人的领导下,我国人民进行了非常英勇的战斗。二征夫人于公元43年在哈河河口战役中牺牲。 二征夫人起义——我国第一次反抗侵略军的起义,在争取民族独立的反侵略斗争中留下了光辉的一页。 哈里曼,威廉·奥伦(1891 - 1986):美国政治活动家、外交官;美国驻苏联大使(1943 - 1946)及驻英国大使(1946);商务部长(1946 - 1948);纽约州州长(1955 - 1958);美国政府流动大使(1961年和1965年);美国国务院负责远东地区事务的副部长(1961 - 1963),随后是美国国务院高级官员(1963 - 1965)。1968年,W.A.哈里曼被任命为美国驻巴黎会议代表团团长。 哈金,保罗·多南(1904 - 1984):美国陆军上将;第二次世界大战期间第三集团军副参谋长;美国驻越南军事司令部(MACV)首任司令(1962 - 1964)。由于美国在越南南方“特种战争”战略的失败,P.D.哈金被召回。 汉弗莱,H.(1911 - 1978):美国政治活动家,美国副总统(1965 - 1969);明尼苏达州明尼阿波利斯市市长(1945 - 1949);明尼苏达州参议员(1948 - 1964),民主党参议员主要组织负责人(1961 - 1964)。1968年,在美国总统选举中,H.汉弗莱是民主党候选人,但败给了共和党候选人R.尼克松。 胡佛,赫伯特·克拉克(1874 - 1964):美国政治活动家,美国总统(1929 - 1933)。他曾是著名的富有矿业工程师;在O.哈定和C.库利奇两位总统任内担任商务部长。就任美国总统时,他将全部薪水捐给慈善事业。在H.C.胡佛任期内,美国发生了严重的经济危机,并蔓延至全世界。尽管试图寻找解决危机的措施,但H.C.胡佛政府的一切努力均告失败。 希特勒,阿道夫(1889 - 1945):德国纳粹党(法西斯党)头目,国家元首,纳粹德国武装部队总司令。 1920年,阿道夫·希特勒创立纳粹党;1933年起,他上台执政并建立法西斯独裁制度。1939年,他是引发第二次世界大战的主要罪魁祸首之一,但最终失败。当苏联红军攻占柏林时,希特勒自杀(1945年)。 黄明鉴(1904 - 1995):爱国革命知识分子,籍贯河内市慈廉县东格社。他毕业于印度支那高等师范学校,随后在金边(柬埔寨)、西贡、河内任教,并为以法语出版的爱国报刊撰写大量文章,如《破钟报》(La Cloche Fêlée)、《安南报》(L’Annam)。 1945年八月革命后,他被我国政府委派担任多项重要职务:内务部办公厅主任、内务部副部长、外交部长、文化部长、越南社会党中央副总书记。他在1945年至1946年间参加了一些越法会谈。 黄国越(1905 - 1992):本名夏巴仓,籍贯北宁省武江县答桥,1925年投身革命,1928年加入越南青年革命同志会。1930年,他是印度支那共产党中央临时执行委员会委员;1937年,是北圻区党委常委;1941年5月起,是印度支那共产党中央常委;1951年至1957年,是越南劳动党中央政治局委员、越南总工会主席。1960年,他是党中央执行委员会委员、最高人民检察院检察长、越南祖国阵线中央委员会主席;1976年,再次当选党中央执行委员会委员;1977年起,是越南祖国阵线中央委员会主席团主席;1983年,是越南祖国阵线中央委员会名誉主席。 黄文苏(1909 - 1944):岱依族,籍贯谅山省文渊县(今文朗县),1926年投身革命。随后,他前往中国,加入北伐军,被授中尉军衔。 1932年,他在龙州修械所工作。在那里,他与黎鸿风取得联系,并于1933年成为印度支那共产党党员。 1935年,参加在澳门(中国)举行的党第一次代表大会;随后回国,在越北活动,担任《斗争报》(Tranh đấu)主编——该报是越北反帝阵线的机关报,为《劳动报》(Lao động)撰稿,领导越北民主阵线运动。 北圻区党委重建后,他补入区党委,随后进入北圻区党委常委;当梁庆善被捕时,被任命为区党委书记(约1939年)。 1940年,被选入党中央执行委员会,并在中央第七次会议(1940年4月)上被选入中央常务委员会。1941年初,受党中央派遣前往与共产国际及党的海外部门建立联络。1941年1月,在新圩(中国广西)会见阮爱国。 中央第八次会议(1941年5月)后,他负责兵运工作,是《解放旗报》的创始人之一。 1943年8月,他被法国殖民者逮捕,并于1944年5月24日在新迈(河内)遇害。 黄衫(1915 - 1969):本名陈文奇,越南人民军少将,广平省人;年轻时参加革命;1942年,任北干省省委委员;1944年,任越南宣传解放军中队长,后任大队长。他还被任命担任军队中的多个职务:军事委员会成员,负责第二军区(1945年);第三军区司令(1948年);海防军事委员会副主席(1955年)。从1955年到1969年,他担任多个军区司令。 霍尔蒂,N.(1868 - 1957):海军上将,匈牙利贝拉昆政府中的战争部长。1920年,N. 霍尔蒂是匈牙利亲法西斯独裁国家的元首。 1944年12月,在苏联军队的帮助下,随着匈牙利摆脱纳粹德国的占领,匈牙利人民推翻了N. 霍尔蒂的独裁政权。 霍塔,安韦(1908 - 1985):阿尔巴尼亚党和国家政治活动家。他是积极致力于成立阿尔巴尼亚共产党(1948年改名为阿尔巴尼亚劳动党)的人之一,并参加了反对意大利法西斯占领的民族解放运动,被法西斯法庭缺席判处死刑;是阿尔巴尼亚共产党党员,1941年起任中央委员。 阿尔巴尼亚人民共和国成立后,他连续被任命担任党和国家的重要职务:外交部长(1946 - 1952年),部长会议主席(1946 - 1954年),阿尔巴尼亚共产党总书记(1948年)和阿尔巴尼亚劳动党第一书记(1948 - 1985年)。从1957年起,霍塔是武装部队总司令和阿尔巴尼亚国防委员会主席。 肯尼迪,约翰·菲茨杰拉德(1917 - 1963):美国第35任总统(1961 - 1963),民主党人。在总统任期内,他实施了一些社会改革,推动经济向开放欧洲共同市场(E.E.C)的方向发展。主张巩固军事集团和美国武装力量。1961年,肯尼迪基于“灵活反应”战略,在越南南部展开“特种战争”,使用伪军力量加上美国现代化的武器和战争手段,并由美国指挥,但已破产(1964)。1963年,肯尼迪在美国得克萨斯州(Texas)达拉斯市(Dallas)遇刺身亡。 拉文求:泰族人民,高平省人。在1950年边境战役中,当他抱着爆破筒冲向敌方据点时,拉文求勇敢地让战友砍掉受伤的手臂以完成任务,被授予人民武装力量英雄称号,是杀敌立功竞赛运动中的旗帜(1952)。 黎德寿(1907 - 1986):政治活动家;生于广治省肇丰县肇成社后坚村;1928 - 1929年期间参加新越革命党和越南革命青年会;1930年,成为印度支那共产党首批党员之一;1931 - 1936年期间,被法国殖民者关押在火罗、山罗、昆仑岛监狱。 1937年,他任中部地区党部书记;1939年,任党中央政治局委员。1940年,他被敌人逮捕,第二次被流放至昆仑岛。1945年八月革命成功后,他受党和政府接回大陆,参加南部抗战。1946年,负责南部地区党部工作;1947年,当选为南部地区党部书记,随后任南部中央局书记。1951年,他当选为党中央委员会和政治局委员。在党的第三次全国代表大会(1960年9月)上,他当选为越南劳动党中央委员会第一书记;中央军事委员会书记。在党的第四次(1976年)和第五次(1982年)全国代表大会上,他继续当选为党中央委员会成员,并被选入政治局,担任总书记。他是第二届至第七届国会代表。黎笋是许多关于越南革命理论著作的作者。 黎德寿(1911 - 1990):本名潘廷凯;生于南定省;1929年,加入印度支那共产党;1930年起,被敌人逮捕并囚禁在南定、火牢、山罗、昆仑岛等监狱。1941年,他参加越盟。1944年,他任党中央委员。1948年,他被派往南部任地区党部副书记兼地区党部组织部部长;1951年起,任党中央委员,南部中央局副书记;1956年,任政治局委员;1960年,任中央组织部部长;任越南民主共和国政府代表团在巴黎关于越南问题会议上的特别顾问;1975年4月,任胡志明战役中的政治局代表;1986年至1990年,任党中央委员会顾问。 黎鸿峰(1902 - 1942):本名黎辉允,籍贯义安省兴原县。1924年,黎鸿峰参加心心社——中国境内越南爱国青年革命组织;1925年,加入越南革命青年会;1926年,被派往苏联东方大学学习;1934年,负责党在国外领导机构工作;1935年,任我党代表团团长参加共产国际第七次代表大会,并当选为共产国际执行委员。在党第一次全国代表大会(1935年3月)上,他当选为总书记;1936年7月,主持在上海(中国)召开的党中央会议,提出党战略指导方向的转变方针,开启民主阵线时期(1936 - 1939);1940年在西贡被敌人逮捕;1942年9月逝世于昆仑岛监狱。 列宁,弗拉基米尔·伊里奇(1870 - 1924):全世界无产阶级和劳动人民的伟大领袖,苏联共产党和人类历史上第一个社会主义国家的创始人,他也是共产国际的创始人。继承马克思和恩格斯的事业,弗拉基米尔·伊里奇·列宁坚决斗争以捍卫马克思主义,反对机会主义者的任何歪曲,并天才地发展了马克思主义的三个组成部分(马克思主义哲学、马克思主义政治经济学和科学社会主义),在理论和实践上正确解决了帝国主义时代无产阶级革命所面临的问题。 V.I.列宁特别关注并提出了许多关于殖民地和附属国家民族解放运动的重要论点。在1920年提交给共产国际第二次代表大会的《关于民族问题和殖民地问题的提纲初稿》中,V.I.列宁阐述了民族解放运动的基本问题。 黎清义(1911 - 1989):本名阮克响,海阳省人,1930年加入越南共产党。1930年5月,被法国殖民者逮捕,判处终身监禁并流放至昆仑岛;1936年出狱后返回河内、海阳开展活动;1940年第二次被捕,被囚禁于山拉监狱;1945年初出狱返回河内,被指派进入北圻区党委。1945年8月,任沿海地区负责人、区党委常委(1946年);党中央办公厅主任(1948年底);党中央执行委员会委员(1951 - 1986年);中央政治局委员(1956 - 1982年);中央书记处常务书记(1980 - 1982年);国家基本建设委员会主任。1974年至1980年,任政府副总理兼国家计划委员会主任,国家主席团副主席(1981年)。1982年至1986年,任国家主席团副主席兼秘书长。第二届至第七届国会代表。 黎文良(1912 - 1995):本名阮公苗,兴和省文江县义柱社人。1927年加入越南革命青年会;1930年1月入党;1931年3月被敌人逮捕关押在西贡大监狱,被判处死刑;后减为终身苦役,流放至昆仑岛;1945年,被革命力量接回南部。1945年10月,被任命为南部区党委候补委员;1947年,被指派为党中央执行委员会候补委员;1948年,任中央组织部部长;1951年,任中央政治局候补委员,后任中央政治局正式委员、分管组织工作的中央书记。他还曾任左岸区党委书记(1956年11月)、中央组织部副部长(1957年)、党中央办公厅主任(1959年初)。1960年起,任中央委员、中央书记兼中央组织部部长;1976年至1986年,任中央政治局委员、河内市委书记。第六届和第七届国会代表。 林肯,亚伯拉罕(1809 - 1865):美国第16任总统(1861 - 1865)。A.林肯是北方各州资产阶级集团的代表,主张反对维持奴隶制度,扩大公民的民主权利。在内战(1862 - 1865年)中,A.林肯采取了彻底的革命措施,并在反对南方奴隶主的斗争中取得胜利。1865年4月14日,在首都华盛顿的一场隆重晚会上,A.林肯被一名演员暗杀。 洛特,亨利·卡博特(1902 - 1985):美国外交活动家,众议员(1931年),参议员(1937 - 1944年和1947 - 1953年),美国驻联合国大使(1953 - 1960年),美国驻西贡大使(1963 - 1964年和1965 - 1967年),流动大使(1967 - 1968年),美国驻德意志联邦共和国大使(1968 - 1969年),美国驻巴黎关于越南问题会议代表团团长(1969年),美国驻梵蒂冈代表(1970 - 1977年)。 李自重(1914 - 1931):本名黎文重,革命家庭出身,河静省人,是阮爱国在1926 - 1927年间在中国广州进行政治训练的八名越南少年之一。1928年,李自重加入越南革命青年会。1929年,被派回国为组建共产主义青年团的工作组担任联络员。1931年,在西贡举行的纪念安沛起义集会上,李自重为保护演讲者射杀了一名密探,被敌人逮捕,1931年底被判处死刑。 马克思,卡尔(1818-1883):天才的领袖,世界工人阶级的伟大思想家,与弗里德里希·恩格斯共同创立了新的哲学——辩证唯物主义和历史唯物主义、政治经济学以及科学社会主义。这三个部分相互有机联系,构成了马克思主义学说,成为无产阶级在消灭资本主义、建设社会主义和共产主义斗争中的意识形态、世界观以及战略和策略理论。 卡尔·马克思不仅是天才的理论家,首先他是一位伟大的革命家。1847年,卡尔·马克思与弗里德里希·恩格斯参与创立了共产主义者同盟。1864年,卡尔·马克思创立了第一国际,并是其灵魂人物。卡尔·马克思在国际共产主义运动和工人运动中,毫不妥协地反对一切机会主义和无政府主义。他将自己的一生献给了工人阶级和全人类的解放事业。 莫定支(1272-1346):字节夫,海阳省志灵县人。他以聪明、好学、对答如流而闻名。相传,1304年,他参加科举考试,但因小人作祟而落第。莫定支随即写下《玉井莲赋》(意为“玉井中的莲花”),陈英宗皇帝召见他直接讲解。皇帝非常赞赏,授予他状元功名,并派他出使元朝(中国)。作为使臣,他始终维护陈朝皇帝和南方的地位。当元朝公主去世时,他写了一首挽诗,元朝皇帝非常钦佩,封他为“两国状元”。在担任使臣期间,他还与高丽(朝鲜)的使臣——高丽状元交往,有助于扩大当时我国与高丽之间的邦交关系。 麦克纳马拉,罗伯特(1916-2009):福特汽车公司主席(1960);美国国防部长(1961-1968)。 麦克纳马拉是积极实施南方“特种战争”、“局部战争”战略以及对越南北方进行破坏性战争的人。1968年3月,麦克纳马拉被免职,后担任世界银行行长。 苏脱母亲(1906 - 1968):本名阮氏苏脱,越南英雄母亲,广平省人。在美国帝国主义升级轰炸、炮击北方的那些年,苏脱母亲勇敢地划船运送部队、货物和武器通过日丽河。1968年,苏脱母亲在运送部队过河时牺牲。 门钦,M.(1903 - 2001):美国政治活动家、外交官;美国参议院多数党领袖(1961 - 1977),美国驻日本大使(1977 - 1988)。 梅斯梅,皮埃尔(1916 - 2007):法国政治活动家;法国军队少尉。当法国被德军占领时,皮埃尔·梅斯梅加入法国解放力量(FFL)。第二次世界大战后,被派往印度支那担任北圻法国共和国专员、印度支那部际委员会秘书长;毛里塔尼亚总督(1952 - 1954),科特迪瓦总督(1954 - 1956),喀麦隆总督(1956),国防部长(1959 - 1969),法兰西共和国总理(1972 - 1974)。 蒙穆索,加斯东(1883 - 1960):法国共产党中央委员,法国总工会书记,《工人生活报》总编辑。 1919年,加斯东·蒙穆索会见了阮爱国,并帮助他修改文章,将其发表在《工人生活报》上。 纳赛尔·阿卜杜勒(1918 - 1970):埃及政治活动家及国家领导人;1947年,他发起并领导“自由军官”组织,反对君主制和外国压迫。1952年,该组织发动政变推翻法鲁克国王,宣布建立共和制。在新政府中,纳赛尔担任革命领导委员会副主席、副总理兼内政部长。1954年,他出任革命领导委员会主席及政府总理;自1956年起担任埃及总统。1958年至1961年,担任阿拉伯联合共和国总统。他是不结盟运动的创始人之一。 阮高其:1930年生于山西;空军少将,南越伪政权总理(1965 - 1967)及副总统(1967 - 1971)。1952年,加入法军,随后在宁定学习预备军官学校,在摩洛哥学习空军学校。1954年,阮高其加入吴廷琰政权的军队;参与领导推翻吴廷琰的政变(1963)。 阮攸(1766 - 1820):字素如,号青轩,越南著名诗人,世界文化名人;籍贯河静省。他学业优异,1783年考中三场,曾任黎-郑政权武官。西山军北上时,阮攸回到妻子所在的太平省家乡,随后迁居乂安。他在阮朝担任礼部参知,曾出使中国。阮攸创作了许多诗歌和诗集,其中最著名的是《金云翘传》。他被视为19世纪越南首位人道主义诗人。 阮维贞(1910 - 1985):政治活动家及外交家,生于河静省。1927年参与爱国和革命活动,1930年加入共产党,任义禄县县委书记(1930 - 1931);被敌人逮捕,被判苦役并流放至昆仑岛监狱(1935 - 1945)。1951年起任党中央委员;1955年起任党中央书记;1956年起任政治局委员;1958年起任国家计划委员会主任;1965年至1980年任副总理兼外交部长。 吴廷琰(1901 - 1963):南越亲美政权领导人(1955 - 1963),籍贯广平省丽水县。1933年,在保大帝政权中担任吏部尚书;1933年7月辞职。八月革命后,吴廷琰被捕,随后获释,居住在芽庄;1950年,流亡美国;1954年,被美国送回国内,在保大帝政府中担任总理。1955年10月,通过美国策划的“公民投票”,吴廷琰“推翻”保大帝,成为南越亲美政权总统。吴廷琰不仅破坏日内瓦协定,还执行南北分裂路线,“反共”,镇压民主运动,镇压宗教,实行家族统治,直接对抗越南革命。1963年11月,在美国策划的一次政变中,吴廷琰被枪杀。 阮海神(1878 - 1959):真名武海秋,籍贯河东省清池县大慈村(今属河内市)。 1925年,阮海神随潘佩珠先生前往中国,就读于黄埔、湖南、韶关的军事学校;参加越南光复会和中国国民党军队;随后与一些人成立“越南革命同盟会”;1945年,跟随蒋介石军队返回越南。 为实施对蒋军暂时缓和的策略,1946年1月1日,我国政府任命阮海神为临时政府副主席,补选进入国会(未经选举),担任联合政府副主席。当蒋军撤回国后,阮海神追随前往南京,后到广州。 阮有寿(1910-1996):政治活动家,出生于隆安省本禄县,律师,原国会主席,越南社会主义共和国国家主席团副主席,越南祖国阵线中央委员会主席。 1930年,他在巴黎(法国)学习法律。20世纪50年代初,他在知识分子、学生和青年学生反对美国干涉印度支那的斗争运动中非常活跃,并于1954年被捕。获释后,他又积极参与争取和平、统一祖国的运动。他是越南南方民族解放阵线中央委员会主席(1960-1976年),越南南方共和国临时政府顾问委员会主席(1969-1976年)。 阮林(1921-1990):本名黎友威,生于河南;1937年参加革命。1940年,被法国殖民者逮捕,关押在火罗监狱和山拉监狱,在狱中入党(1943年)。1945年出狱后,阮林参与领导福安和北宁的起义夺取政权。在对法抗战中,他被任命为南定省、宁平省委第一书记。1948年,被调往中央群众运动委员会;中央团委书记(1949年);河内市委第一书记;国家计划委员会副主任,部长级(1969-1973年);国家计划委员会主任(1973-1974年,1981-1982年);第四、五届中央政治局委员;政府副总理(1980-1982年)。 阮氏定(1920-1992):本籍槟椥省,青年时期即参加革命。1938年,加入印度支那共产党。1960年,任槟椥省委第一书记;越南南方解放武装力量副司令(1965-1975年),1974年被授予少将军衔;1976年起任中央政治局委员。1980年起,任越南妇女联合会主席,世界民主妇女联合会副主席。她是第六、七、八届国会代表;1981年1月起任国家委员会成员;1987年起任越南社会主义共和国国家委员会副主席。 1995年,越南党和国家追授她“人民武装力量英雄”称号。 阮氏明开(1910 - 1941):又名 Vịnh(化名 Bà Vai、Phan Lan、Năm Bắc),是义安省荣市一名铁路职员的女儿。学生时代即参加革命;1927年加入兴南会(新越革命党前身);1930年加入印度支那共产党,随后在共产国际东方局办事处工作;1935年7月,作为我们党代表团成员出席在莫斯科举行的共产国际第七次代表大会(1935年7月)。在大会上,她以 Phan Lan 的化名宣读了一篇关于印度支那妇女在革命斗争中作用的论文。回国后,1936年8月被派入南圻区党委,任西贡 - 堤岸市委第一书记。1940年7月30日,她被捕,1941年8月28日在胡志明市胡志明县被敌人枪决。 阮墙三(1905 - 1963):即 Nhất Linh,祖籍广南。阮墙三是自力文团的首领,《风化和今日》报的主编。1940年,他出面成立亲日的大越民政党。由于我国政府暂时与蒋介石政府缓和关系的策略,1946年3月,他未经选举被补选进入国会,并在联合抗战政府中担任外交部长;他是出席大叻会议(1946年4月)的政府代表团团长,并被任命为出席枫丹白露会议的我方政府代表团团长,但阮墙三弃职而去。此后,他跟随武鸿康前往中国云南,继续充当法国殖民者和后来美国帝国主义的走狗。 阮文楚(1912 - 1941):政治活动家,印度支那共产党中央委员会总书记(1938 - 1940),北宁省从山县人。学生时代即参加革命;1929年,他加入印度支那共产党;1930年,任鸿基 - 乌昂比特区书记。1931年被法国殖民者逮捕并流放至昆仑岛。1936年获释,阮文楚积极从事北圻党的组织建设工作。1937年9月,被选入党中央政治局。1938年3月,当选为党的总书记。1939年11月,他是主持中央会议(在嘉定省巴点召开)的人之一,该会议决定转变战略方向,成立印度支那反帝民族统一战线。他撰写了《自我批评》(署名 Trí Cường),论述了越南革命的理论与实践问题。 1940年6月,阮文渠第二次被法国殖民者逮捕,1941年8月被杀害于胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明市胡志明 华盛顿主张巩固种植园主和资产阶级的地位;在对外政策上,他主张不参加欧洲国家之间的联盟和战争。1792年,当选为美国第二届总统(1792-1797)。 奥尔特曼,威廉(1914-2005):美国陆军上将;美国陆军参谋学院参谋长(1950-1952);驻朝鲜和日本第187航空师师长(1952-1953);曾担任第101空降师师长和美国陆军学院院长。 1963年至1968年间,威廉·奥尔特曼担任驻越南南部美军司令部副司令,随后任司令;美国陆军参谋长(1968-1972)。 威廉·奥尔特曼是“搜索歼灭”战略的制定者、组织者和实施者,该战略包括在越南南部1965-1966年和1966-1967年两个旱季的反攻计划,但惨遭失败。 朴正熙(1918-1979):少将,韩国政治、军事活动家,民主共和党领袖。1961年军事政变的首脑;韩国总统(1963-1979)。在领导韩国政府期间,朴正熙与美国建立紧密的军事同盟,并向越南南方派遣军队。1979年,朴正熙遇刺身亡。 范文同(1906-2000):广南省莫德县德新社人。1925年,参加河内学生爱国运动,被开除学籍。1926年,参加阮爱国在广州(中国)组织的政治训练班,并加入越南革命青年会。1927年,回国并被派往南圻越南革命青年会支部。1929年被敌人逮捕,被判刑10年,流放至昆仑岛。1936年获释,在河内公开活动,随后在中国南方活动(1940-1941)。1941年中,回国并积极参与建设越北根据地。八月革命(1945年)成功后,被任命为越南民主共和国临时政府财政部长(1945年);政府代表团团长,出席枫丹白露会议(1946年5月);政府驻中圻南部代表(1947-1948年);政府副总理(1949年);国防委员会副主席(1949年8月),兼任外交部长(1954年5月);越南政府代表团团长,出席关于印度支那的日内瓦会议(1954年);政府总理(1955-1981年);部长会议主席(1981-1987年);印度支那共产党中央委员会候补委员(1947年);正式委员(1949年)。1951年至1986年,连续担任党中央委员、中央政治局委员;第一至第七届国会代表。1987年起,任越南共产党中央委员会顾问。 冯文恭(1909-1987):医生,爱国知识分子。1937年,毕业于河内医科大学。在八月革命(1945年)期间,参加沙德(今属同塔省)的夺权斗争。1957-1959年间,任周德、吉莱省卫生总监,随后在福坚医院(西贡)工作。1960年,上山区参加抗美救国战争。1960年12月20日起,当选为越南南方民族解放阵线中央委员会副主席;世界和平保卫委员会主席、越南南方红十字会主席。1969年6月,当选为越南南方共和国临时革命政府副主席,兼任内务部长。 自1977年3月起,他担任越南祖国阵线中央委员会委员、越南保卫世界和平委员会委员。 蓬皮杜,乔治(1911-1974):法兰西共和国总统(1969-1974)。1958年至1959年间,任法兰西共和国政府办公厅主任;法国政府总理(1962-1968)。 勃列日涅夫,尼基塔·瓦西里耶维奇(1903-1983):苏联最高苏维埃主席团主席(1965-1970)。1950年至1953年间,任哈尔科夫市市委第一书记;1963年,任苏联共产党中央委员会第一书记。 Q 光中(1753-1792):阮惠皇帝的庙号。进入十八世纪,越南封建制度步入深刻而全面的危机阶段。这是郑、阮两大封建势力割据纷争的时期。各地农民起义接连爆发,其高潮是由阮岳、阮惠、阮侣三兄弟领导的西山运动。 西山运动从归仁的一场地方起义发展至全国多地,进而上升为全民族的奋起反抗,扫除了南方和北方腐朽的封建集团,恢复了国家的统一。阮惠是西山运动的领袖和灵魂。 阮惠领导我军民粉碎了暹罗封建势力的入侵(1784-1785)。1788年,阮惠登基称帝,年号光中,统率军队准备大破清军。仅在己酉年春初的五天五夜(1789年1月25日至30日),在光中天才的指挥下,我国人民歼灭了二十余万满清军队。这是我国反侵略历史上一次伟大而神奇的功绩。 光中不仅是一位天才的军事家、名将,还是在政治、经济、文化、外交等领域出类拔萃的人才。光中是一位智勇双全的民族英雄,在我国历史上拥有光辉的事业。 拉克瑟,迪恩(1909-1994):美国军事、外交活动家;第二次世界大战期间任中国-缅甸-印度战区副参谋长;1950年任美国国务院远东事务助理国务卿;肯尼迪总统和约翰逊总统任内任美国国务卿(1961-1969)。 罗斯福,富兰克林·德拉诺(1882-1945):美国第32任总统,连续担任四届任期(1933-1945),民主党党员。执政期间,他提出“新政”以克服经济危机(1929-1933)的后果。第二次世界大战期间,他参与形成反法西斯同盟;参加在德黑兰和雅尔塔举行的美、苏、英三国首脑会议,讨论消灭法西斯主义的问题。 鲁特韦尔,伯特兰(1872-1970):英国哲学家、和平战士,不懈斗争反对美国帝国主义对越南的侵略战争。 他是倡议设立审判美国帝国主义在越南侵略战争罪行的国际法庭的人。1966年5月24日,他致信越南人民,表示同情和支持越南人民正义的斗争。 根据他的倡议,1966年11月15日,以他名字命名的审判美国帝国主义在越南战争罪行的国际法庭在伦敦(英国)成立。1967年5月2日,伯特兰·鲁特韦尔国际法庭的第一次正式听证会在斯德哥尔摩(瑞典)开庭。 B.鲁特韦尔是揭露美国帝国主义在越南侵略战争中罪行的书籍的作者。该书在伦敦出版,对英国进步人民反对美国帝国主义在越南侵略战争的群众运动产生了重大影响。 T.泰勒,马修(1901 - 1987):美国陆军五星上将。1953年,M.泰勒任驻朝鲜第八集团军司令。1955年,任陆军参谋长。1959年退休,但1961年受聘担任军事顾问,随后在肯尼迪总统任内担任美国联合参谋部主席(1962 - 1964)。1964 - 1965年间,任驻西贡美国大使。M.泰勒提出“灵活反应”战略,获肯尼迪总统批准并自1961年起应用于侵略越南的战争,但遭到失败。 杜友(1920 - 2002):本名阮金成,政治活动家、诗人;籍贯承天-顺化省广田县广寿社。1936年参加革命;1937年加入印度支那共产党。1939年4月,被敌人逮捕并关押在顺化、老保、波来古、昆嵩的监狱中。1943 - 1945年,任清化省委书记,参与光中战区领导机构。八月革命后,任南部地区委员会副书记;清化省委书记(1946);党中央委员会候补委员(1951);党中央委员会委员(1955)。1960年,当选党中央委员会委员和中央书记处书记;任中央宣传训练部部长和中央科教部部长(1968),兼任统一部部长(1972);阮爱国高级党校校长(1976)。1980年,当选中央政治局正式委员,任副总理。1981年,被任命为部长会议副主席、国防委员会委员。 他是越南革命诗歌的旗帜,获党和国家授予金星勋章、60年党龄徽章、胡志明文学奖以及许多其他珍贵勋章和奖章。 尊德胜(1888 - 1980):籍贯隆川省美和兴村(今属安江省隆川市);在百工学校学习技艺,后在法国海军驻西贡的机器厂做工。1912年,他组织百工学校学生和巴松造船厂工人罢工。被法国殖民者追捕,他逃往法国,在法国海军做机械工人。1919年,他参加黑海法国水兵起义,以保卫苏维埃国家。1920年,他回国在西贡-堤岸建立秘密工会。1926年,他加入越南革命青年会,并被选入南圻区执行委员会(1927)。1929年底,被法国殖民者逮捕,判处20年苦役并流放至昆仑岛(1930年6月);1930年加入越南共产党。 八月革命(1945年)后,他受革命政权迎接回国,立即投身于南部人民抗击法国殖民者的战斗;连续担任第一届至第六届国会代表,曾任国会常务委员会副主任、主任。1955年起,他任越南祖国阵线中央委员会主席团主席;越南民主共和国副主席(1960年-1969年);国家主席(1969年-1980年)。 托雷,莫里斯(1900年-1964年):法国政治活动家,国际共产主义运动和工人运动活动家。1919年3月,加入法国社会党,积极从事建立法国共产党的斗争。他是法国共产党中央委员会委员(1924年),政治局委员兼中央委员会书记(1925年),法国共产党总书记(1930年-1964年),共产国际执行委员会委员(1928年-1943年),1935年至1943年任共产国际主席团成员。 陈富(1904年-1931年):印度支那共产党总书记,籍贯河静省德寿县。 1925年,同志参与创建复越会,该组织是新越革命党的前身。1926年,同志参加阮爱国在广州(中国)组织的革命训练班,随后被派往苏联东方大学学习。 1930年4月,陈富回国,被补选为党中央委员会委员(1930年7月)。 同志与中央常务委员会共同起草了党的政治纲领。该纲领于第一次中央会议(1930年10月)上通过。在这次会议上,陈富被选为党的总书记。 1931年4月19日,陈富被法国殖民者逮捕。在狱中,同志遭受了敌人极其野蛮的酷刑。由于重病,同志于1931年9月6日牺牲。 陈文香(1902 - 1982):西贡伪政权高级人物;总理(1964 - 1965年及1968 - 1969年),副总统(1971 - 1975年),并在7天内担任总统(从1975年4月21日至4月28日)。 郑廷草(1901 - 1986):律师,越南祖国阵线中央委员会主席团委员。在1945年至1954年间,他参加了西贡-堤岸知识分子反对法国殖民侵略的斗争,随后又参加反对美国帝国主义及其走狗、要求国家和平统一的斗争。1955年至1957年间,他三次被西贡政权逮捕入狱。1968年,他前往战区参与建设越南民族、民主与和平力量联盟,并当选为该联盟主席。1969年6月,在越南南方国民大会上,他被推选担任越南南方共和国临时革命政府顾问委员会副主席。他是第六届国会代表。 图雷,塞库·阿梅特(1922 - 1984):几内亚独立斗争的领导者,非洲民主联盟(1946年成立于巴马科)的创始人之一,并担任该联盟副主席,曾任几内亚民主党中央总书记。1955年,任科纳克里市市长,并作为几内亚议员进入法国国会(1956年)。1957年,任几内亚政府副总理,并担任法国西非联邦大会议员。1958年,任几内亚共和国政府总理,随后担任该国总统。 蒋介石(1887 - 1975):原籍中国浙江省。1923年,任广东军政府大本营参谋长。1924年,受孙中山派遣赴苏联考察军事,回国后任黄埔军校校长。 孙中山逝世后,蒋介石担任中国国民党中央执行委员会常务委员会主席、国民革命军总司令,属于右派,反对中国共产党。1943年,连任中国国民党政府主席。1948年,任总统。1949年1月,蒋介石辞职,同年退往台湾,继续担任中国国民党总裁和台湾中华民国总统。 翁布里希,万特(1893-1973):德国统一社会党(1946年)创始人之一;该党副主席(1946-1949年);该党总书记(1950-1953年);该党中央执行委员会第一书记(1953-1971年);该党主席(1971-1973年)。在1960年至1971年间,他还担任德意志民主共和国国家主席团主席、德意志民主共和国国防委员会主席。 玉籍(1931-1968):本名阮氏玉,生于茶荣;抗美救国战争期间南部著名的女游击队员。玉籍在一次美军飞机轰炸中牺牲。 瓦扬·库蒂里耶,保尔(1892-1937):法国共产党创始人之一;法国国民议会议员;《人道报》主编。他是1919年介绍阮爱国加入法国社会党的人;是1920年图尔代表大会上积极斗争以维护社会党加入共产国际主张的人之一。他还帮助阮爱国摆脱英国人在香港的监狱,安排他前往上海,随后前往苏联。 瓦扬·库蒂里耶是支持殖民地民族解放斗争的人,也是胡志明主席在法国活动时期最亲密的朋友之一。 文进勇(1917-2002):籍贯河内市慈廉县古虚社。他1936年参加革命,1937年加入印度支那共产党。他曾担任以下职务:河东和北宁党工作团书记;北圻区党委常委、书记(1943-1944年);北圻革命军事委员会委员(1945年4月);越南国家军队政治局局长、中央军事委员会副书记(1947-1949年);第三军区政委(1949-1950年);执行关于越南的日内瓦协议联合停战委员会中越南人民军代表团团长(1954年);越南人民军总参谋长(1953-1978年);指挥9号公路-南老挝战役(1971年)、广治战役(1972年)、西原战役(1975年),胡志明战役司令(1975年)。 1974年被授予大将军衔,中央军事委员会书记(1984-1987年),国防部长(1980-1987年)。 他是党中央委员会候补委员(第二届);第三届至第六届党中央委员会委员;1960年至1972年中央政治局候补委员;第四届、第五届中央政治局委员;第二届至第七届国会代表。 武元甲:1911年8月25日出生于广平省丽水县禄水社安社村。早年参加爱国运动并加入新越革命党。1936年至1939年间,在河内公开活动。1940年赴中国,会晤领袖阮爱国,随后随其回国参与建设高平-北宁-谅山根据地。1945年党在新肇召开全国会议时,被补选为党中央委员会委员。 1945年八月革命后,他被任命担任国家机构中的多项重要职务:内务部部长、军事委员会主席、我国政府代表团在达拉特预备会议上的副团长。1948年,被授予大将军衔,任国防部部长兼越南人民武装力量总司令。 从第二届(1951年)至第五届(1982年)党代会,连续当选为党中央委员会委员;第二、三、四届中央政治局委员;中央军事委员会书记;第一届至第七届连续担任国会代表。自1955年起,被任命为政府副总理,后连续担任部长会议副主席直至1991年。 武氏六(1934-1952):烈士,人民武装力量英雄,籍贯巴里亚省(今属巴里亚-永隆省)。武氏六年幼时即参加革命。自1947年起,在安全部队工作并立下诸多战功;1950年被敌逮捕,判处死刑并押送至昆仑岛,1952年1月被枪决。 1993年,我国党和国家追授武氏姹“人民武装力量英雄”称号和一级战功勋章。 武鸿康(1898-1993):本名武文简,永禄县土塘村人(今属永福省)。1928年,参加越南国民党。安沛起义失败后,逃往中国。1945年,随蒋介石军队返回越南。1946年6月,再次随蒋介石军队前往中国。1949年,中国革命胜利时,武鸿康逃回高平,随后为法国效力。1954年,逃往南方。1975年后,武鸿康获我国政府赦免,回到土塘生活直至去世。 西哈努克,诺罗敦·西哈莫尼:1922年生,亲王,柬埔寨国王。20世纪30至40年代,他在金边和西贡就读小学、中学和大学。1941年4月,被王位委员会选为柬埔寨国王,随后赴法国学习骑兵和装甲兵训练学校。1955年4月,获父亲国王允许退位,并创立平民社会共同体,后任柬埔寨王国首相。在1955年于万隆召开的第一届亚非会议上,他宣布柬埔寨王国中立。1956年,在布里奥尼(前南斯拉夫),他签署不结盟运动宪章。1960年起任柬埔寨王国国家元首;其政权于1970年初被亲美势力政变推翻。1970年3月,任柬埔寨民族统一阵线主席,并参加第一届印度支那峰会(1970年4月)。1975年4月起任柬埔寨民主共和国国家主席,1976年4月自行辞职。1991年11月起任柬埔寨王国国家元首,1993年9月,王位委员会选他为国王。 2004年,西哈努克国王宣布退位,将王位让给诺罗敦·西哈莫尼亲王。 苏加诺,阿特米特(1901-1970):印度尼西亚共和国总统。参与创立印度尼西亚民族党(1927年),后成为该党领袖。1931年,民族党自行解散以成立印度尼西亚党。苏加诺自1932年起担任该党主席。他因爱国活动及反对荷兰殖民统治,两次被监禁(1929-1931年和1937-1942年)。1945年8月17日,受社会各组织委托,苏加诺宣读宣言,宣布国家独立,并出任印度尼西亚共和国首任总统。他是1955年万隆会议的倡议召集人之一,也是不结盟运动的创始人之一。1965年军事政变后,他于1967年卸任总统职务。 苏发努冯(1909-1995):政治活动家,老挝人民革命党中央委员会政治局委员,老挝人民民主共和国主席,老挝爱国阵线(巴特寮)主席。 在抗法战争和抗美战争中,苏发努冯担任过许多重要职务:老挝抗战政府总理,老挝爱国阵线(巴特寮)主席。他是老挝革命力量的代表,参加了老挝第一次联合政府(1957-1958年)、第二次联合政府(1962-1964年)和第三次联合政府(1974-1975年)。1972年2月,他当选为老挝人民革命党中央政治局委员。根据1973年3月万象会议的精神,苏发努冯被任命为联合国家政治委员会主席。1975年12月2日,老挝人民民主共和国成立,苏发努冯亲王当选为国家主席和最高人民委员会主席。自1991年起,因身体虚弱,他担任老挝人民革命党中央委员会顾问,直至逝世。 他为建立和巩固越老特殊关系作出了巨大贡献。 Y Y BIH ALÊÔ(1901—1987):埃德族(Êđê)人,越南南方民族解放阵线中央委员会副主席,越南祖国阵线中央委员会主席团委员。他于1945年3月参加革命,并在抗法殖民战争中积极活动。1954年,他与西原各少数民族代表共同创立西原自治运动。他曾任达克拉克省民族解放阵线主席(1960年12月);中部—中中部阵线委员(1962年);自1964年起任越南南方民族解放阵线副主席;自1975年起任越南祖国阵线中央委员会主席团委员。